Home / TIÊN TRI & BÍ ẨN / Bí ẩn lịch sử Trái Đất mà tôi được biết

Bí ẩn lịch sử Trái Đất mà tôi được biết

Dẫn nhập: Thuận theo tiến trình Chính Pháp không ngừng tiến đến không gian bề mặt và sự liên tục đề cao tâm tính, đồng hóa với đặc tính Chân-Thiện-Nhẫn, trí huệ và năng lực mà Đại Pháp cấp cho tôi cũng càng ngày càng mạnh mẽ hơn. Đại Pháp cũng đã triển hiện những chân tướng tại các tầng vũ trụ khác nhau tương ứng với cảnh giới tu luyện của tôi, bao gồm cả những bí ẩn trong lịch sử của Trái Đất. Nay xin viết ra để các đồng tu cùng tham khảo.

1. Nền văn minh Atlantis vĩ đại huy hoàng

Trên lục địa Atlantis đã từng xuất hiện những nền văn minh vô cùng rực rỡ. Bản khối đại lục này đã tồn tại hàng triệu năm, trong quá trình đó vô số nền văn minh đã lần lượt đến rồi đi. Ở đây tôi xin kể về giai đoạn lịch sử huy hoàng nhất của Atlantis cách đây hơn 10.000 năm, đó là thời kỳ của Thần Apollo vĩ đại. Sở dĩ gọi đó là “thời kỳ của Thần Apollo” bởi vì Thần Apollo đã chuyển thế, truyền Pháp tại thế gian rồi sáng lập ra nền vương triều vĩ đại này (cũng giống như thời kỳ văn minh lần này do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền Pháp và khai sáng). Ông chuyển sinh là một người văn võ song toàn, dũng mãnh, thiện chiến, hành sự thuận theo thiên ý, ông đã đánh bại tất cả những bộ lạc tà giáo, thống nhất toàn bộ đại lục này và trở thành vị Giáo hoàng đầu tiên. Vì ông là người truyền đạo, nên toàn bộ dân chúng thời đó đều tín ngưỡng Thần Apollo.

Vương triều do Thần Apollo khai sáng là một vương triều kết hợp chính trị và tôn giáo, dùng tôn giáo thay thế chính quyền, thời kỳ huy hoàng này kéo dài liên tục 20 đời vua. Mỗi đời vua đều tự xưng mình là con của Thần Apollo, là dòng dõi của Thần. Khoa học kỹ thuật của họ hoàn toàn khác so với ngày nay, họ nghiên cứu nhắm thẳng vào khoa học thân thể người, chú trọng thiên nhân hợp nhất, giữ gìn nền văn hóa thần truyền chính thống. Tiếp theo tôi sẽ miêu tả một vài phương diện về thời kỳ này của Thần Apollo.

Dân tộc của họ có tên là Anaye (nghĩa là dân tộc mang dòng dõi của Thần), ngôn ngữ được dùng là tiếng Phạn cổ (Sanskrit), ngoại hình của họ giống người phương tây da trắng, tóc màu bạch kim hoặc vàng sậm. Hình tượng nam rất tuấn tú và lực lưỡng, hình tượng nữ thì mỹ lệ, đoan trang (để dễ hình dung, họ trông giống như người Ukraine và Belarus ngày nay). Trang phục chủ yếu là áo dài màu trắng hoặc vàng. Hoa hồ đào được chọn làm quốc hoa. Kiến trúc đô thị tương tự như phong cách kiến trúc của tây phương cổ đại. Những cung điện được xây bằng đá xám rất hùng vĩ, tráng lệ, và trên tường được chạm khắc những hình vẽ kể về các câu chuyện thần thoại và những vị anh hùng, những hình khắc cực kỳ tinh xảo và đẹp. Mỗi khu vực được biểu trưng bởi những tòa tháp hình khối cao 100 mét. Còn ở thành phố lớn thì những tòa tháp biểu trưng này có thể cao đến 200 mét, có các đạo sĩ tu luyện ở trên đỉnh tháp. Những tòa tháp này còn được dùng để quan sát thiên văn và tổ chức các nghi lễ tôn giáo lớn. Thời đại của Thần Apollo là thời kỳ cực thịnh của nền văn hóa thần truyền chính thống của người da trắng phương tây. Các lục địa khác đều phái sứ giả đến đại lục Atlantis để học tập những công nghệ tiên tiến của xứ sở này. Thương nhân từ khắp nơi cũng thường xuyên lui tới để mua những món đồ thủ công tinh mỹ nhất, vải vóc, kỹ thuật y tế cùng với rất nhiều loại dược phẩm khác nhau, các chủng loại động thực vật v.v. để mang về đất nước của họ. Tuy nhiên một hiện tượng thú vị là các loài động thực vật thần kỳ ấy khi mang sang vùng khác chỉ duy trì được một thế hệ, bởi vì không có thần lực gia trì cũng như thổ nhưỡng đặc thù, nên những thế hệ động thực vật được sinh ra sau sẽ trở về kích thước ban đầu.

Quân đội vào thời của Thần Apollo rất hùng mạnh, họ chủ yếu vận dụng pháp thuật để tiêu diệt quân phiến loạn hoặc tà giáo. Khi hai phe chuẩn bị giao tranh, đầu tiên họ sẽ mời một vị trưởng lão có pháp lực cao cường nhất trong tôn giáo đến để tiêu diệt những nhân tố tà linh của tà giáo ở không gian khác đang khống chế đối phương gây chiến tranh, làm tê liệt tư tưởng của quân đội đối phương. Sau đó triệu tập những thần thú ở những cảnh giới khác nhau, bao gồm cả rồng biết phun lửa, để tiêu diệt đạo quân của phe địch đối ứng ở không gian khác, khiến cho thân thể của họ ở không gian khác bị tổn thương, biểu hiện ở không gian vật chất là mất khả năng chiến đấu. Cuối cùng, những kỵ sĩ thánh chiến theo lệnh xuất binh đánh một trận là quét sạch hết thảy quân địch. Bộ binh đã như thế, ngay cả hải quân của họ cũng bất bại. Chiến thuyền của Apollo tung hoành khắp các đại lục, đi đến đâu nơi đó đều phủ phục quy hàng.

Các vương triều trong thời đại của Apollo đều có ảnh hưởng mạnh mẽ đến kinh tế toàn thế giới, bởi vì đây là văn hóa Thần truyền chân chính, nên từ các ngành nghề trong xã hội, trí huệ và kỹ năng của con người, cho đến các loài động thực vật đều được Thần lực gia trì trở nên vô cùng phát triển và tốt đẹp. Hạt gạo rất to, mỗi củ khoai tây nặng hơn 2 kg, ngựa có kích thước gấp đôi ngựa ngày nay. Trâu bò nặng 900 kg. Tơ lụa của họ vô cùng nhẹ, mềm mại và thanh tú, kiểu dáng đa dạng, màu sắc diễm lệ. Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được chế tác rất tinh xảo, độc nhất vô nhị và chứa đựng nền văn hóa thần truyền. Mỗi sản phẩm đều là một tác phẩm nghệ thuật để đời.

Về y học, đan dược do các đạo sĩ luyện xuất ra được bán trên khắp các đại lục, trị được rất nhiều bệnh nan y. Người Atlantis có tiêu chuẩn đạo đức rất cao, nhờ ảnh hưởng của tôn giáo, quan hệ giữa người với người rất hài hòa, bởi vì toàn dân đều có tín ngưỡng nên họ đều đối đãi với tất cả mọi người như người nhà của mình, họ cố gắng làm ra những sản phẩm tốt nhất để cho người khác sử dụng, còn bản thân thì dùng những sản phẩm bị lỗi. Tất cả mọi người đều hành xử vô tư như thế.

Về thương mại, ngoài các giao dịch tiền tệ, họ còn trao đổi hàng hóa. Những thuyền buôn lớn của vương triều Apollo đều được hộ thống bởi các kỵ sĩ thánh chiến, họ giao thương bằng đường biển trên toàn cầu. Tất cả của cải thuộc sở hữu của quốc gia, được dùng làm phúc lợi xã hội phân phối cho người dân trong nước.

Ở phương diện hôn nhân, họ chú trọng huyết thống thuần chủng, không cho phép cưới người ngoại tộc. Giai cấp quý tộc thường tổ chức hôn sự cho người giai tầng thấp. Phụ nữ ở Atlantis hội tụ các yếu tố về trí huệ, nhan sắc và đạo đức cao thượng. Họ là sự lựa chọn số một của các bậc quân vương, hoàng tộc trên khắp thế giới. Về phương diện bồi dưỡng thế hệ tương lai, mỗi đứa trẻ khi sinh ra đều được đạo sĩ cao cấp ở địa khu đó bốc quẻ xem số mệnh, dựa theo sự an bài của Thần mà hoạch định ra đường đời cho đứa trẻ. Nhờ vậy đứa trẻ có thể được bồi dưỡng theo khả năng thiên bẩm của mình mà trở thành nhân tài của quốc gia.

Về giáo dục, toàn quốc đều có các trường học tôn giáo, chia thành ba cấp học, cả nam lẫn nữ đều phải hoàn thành bảy năm tiểu học và năm năm trung học. Những người có khả năng thiên phú sau khi trải qua kỳ thi sát hạch sẽ được học tiếp lên đại học tôn giáo. Bậc đại học dạy về học tập các kinh điển, ngôn ngữ văn tự rất khó hiểu, nó rất gần với ngôn ngữ của thiên quốc người da trắng, những đạo sĩ cần phải đạt đến cảnh giới cao thâm mới có thể được vận dụng năng lượng mở ra cánh cửa pháp thuật. Đại học tôn giáo chủ yếu dạy về các loại phép thuật cao siêu và các phương pháp tu luyện. Người bình thường nếu ngoan cố vận dụng chúng thì sẽ lập tức bị cạn kiệt sinh lực, nguy hiểm đến tính mạng, sẽ không sống nổi quá bảy ngày. Những đạo sĩ này sau khi được tốt nghiệp sẽ thành người bảo vệ chân lý, là sứ giả của Thần truyền đạo nơi thế gian.

Lịch sử như một vở kịch, cả bạn và tôi đều ở trong đó. Có khi tiếng nhạc vang lên hùng tráng, rồi cũng đến hồi kết thúc. Vương triều Apollo rực rỡ nhường ấy cũng không thể thoát khỏi cảnh suy tàn. Vào thời kỳ mạt pháp của vương triều này, tôn giáo trở thành chính trị, chạy theo danh lợi, làm biến dị nội hàm của tôn giáo. Tôn giáo suy đồi dẫn đến đạo đức xã hội trở nên bại hoại. Cuối cùng vương triều ấy đã bị chư thần tiêu hủy. Toàn bộ đại lục bị nhấn chìm trong đại hồng thủy, động đất và các thiên tai khác. Nền văn minh huy hoàng một thời ấy đã nằm sâu dưới đáy biển. Trải qua vô số lần luân hồi, hôm nay chúng ta quay đầu nhìn lại, hồi tưởng lại chuyện xưa mà cứ như đang ở trước mắt, bao nhiêu năm tháng ấy giờ đây chỉ như những đám mây bay qua tầm mắt.

2. Đế quốc Lan Đặc Tư

Trong thời kỳ tiền sử, nền văn minh của nhân loại đã nhiều lần đạt đến trình độ khoa học kỹ thuật cao siêu hơn khoa học kỹ thuật thời kỳ này của chúng ta. Trong bài viết này, tôi xin kể tóm tắt về thời kỳ phát triển đỉnh cao của khoa học kỹ thuật vào thời nhân loại tiền sử, nhưng dù khoa học có phát triển đến đâu thì kết cục của nó vẫn đi tới hủy diệt.

Vào khoảng 130 triệu năm về trước, bề mặt các lục địa trên Trái đất khác nhiều so với ngày nay, khi ấy có một lục địa lớn và rất nhiều lục địa nhỏ rải rác khắp thế giới. Trên lục địa lớn có một quốc gia tên là đế quốc Lan Đặc Tư, phiên dịch sang ngôn ngữ hiện đại nghĩa là “đế chế liên hành tinh”. Khoa học kỹ thuật của họ vô cùng phát triển, ngoại hình con người giống với người Ả Rập hiện nay, nhưng họ không có quan hệ gì với người Ả Rập ngày nay, phục sức cũng không khác nhiều, là loại áo dài Ả Rập. Dân số vào khoảng 30 triệu người. Về phương diện khoa học kỹ thuật, họ sử dụng máy móc trí tuệ nhân tạo, được điều khiển bởi tư duy của con người. Nhân loại thời đó có thể du hành không gian hết sức dễ dàng, đâu đâu trong hệ Ngân Hà này cũng có dấu chân của họ.

Khi đó, đế chế Lan Đặc Tư là một cường quốc rất hùng mạnh, họ phát động chiến tranh hạt nhân trên phạm vi toàn cầu, hủy diệt tất cả những quốc gia đối kháng với họ, thống lĩnh toàn bộ Trái đất. Những quốc gia bại trận trở thành các nước chư hầu của họ. Do cuộc chiến tranh hạt nhân kéo dài, bề mặt Trái đất đã bị tàn phá thật thảm khốc, phóng xạ hạt nhân bao trùm hết thảy vạn vật, dẫu cho họ là quốc gia cực kỳ phát triển nhưng vẫn không còn cách nào khác ngoài việc chui xuống lòng đất để duy trì sự sống. Bề mặt Trái đất tràn ngập các loại động thực vật bị phóng xạ làm cho biến dị. Con người nếu muốn quay lại mặt đất làm gì đó thì phải mặc đồ bảo hộ phóng xạ. Khoa học kỹ thuật của họ còn phát triển đến mức họ có thể thay đổi được cấu trúc gen của muôn loài, tạo ra những giống loài mới, kỹ thuật biến đổi gen này được áp dụng ở hầu hết các phương diện trong xã hội, tuy nhiên kỹ thuật biến đổi gen này lại phá hoại thế giới do Thần tạo ra, phá hoại trạng thái cân bằng của nhân loại. Hãy lấy một vài thí dụ: những người bị cụt mất tay chân trong chiến tranh có thể được khôi phục lại tay chân nhờ kỹ thuật gen. Giới quý tộc và hoàng tộc có thể trở nên trẻ đẹp hơn nhờ kỹ thuật biến đổi gen. Những người lao động chân tay thì có thể cải tạo tứ chi để trở nên lực lưỡng hơn. Những người lao động trí óc thì khuếch trương dung lượng của bộ não để trở nên thông minh hơn. Mỗi đứa trẻ khi sinh ra đời sẽ được truyền nhập lượng tri thức mà người ta mong muốn nó nắm vững, tương đương với việc học tập trong khoảng 15 đến 30 năm.

Văn hóa của nhân loại thời đó cực kỳ biến thái, tương tự với văn hóa biến dị của Nhật Bản hiện nay, hoặc xã hội dâm loạn của Hy Lạp thời kỳ cuối. Giới quý tộc nhờ biến đổi gen mà có thể sáng tác được những bản nhạc hay và vũ điệu đẹp để hưởng thụ cuộc sống. Có những phụ nữ được tuyển chọn từ khi còn nhỏ và bị tiêm các loại thuốc biến đổi gen và tinh chất của các loại hoa, đến khi trưởng thành thì cả cơ thể lẫn các dịch nhầy trong cơ thể đều tỏa ra mùi thơm thoang thoảng hoặc mùi thơm dạt dào của các loại hoa như hoa hồng, hoa tulip và các loài hoa khác.

Về phương diện quân sự, công nghệ của họ gần như đã đạt đỉnh cao so với tất cả những nền văn minh tiền sử trên Trái đất. Đồng thời họ cũng là một dân tộc hiếu chiến sống bằng cách đi xâm chiếm, cướp đoạt các dân tộc khác. Phi thuyền của họ sử dụng động cơ năng lượng lượng tử. Họ chế tạo được loại hợp kim siêu bền có tính chịu nhiệt và chống hao mòn cực cao. Họ có thể du hành bất cứ đâu trong hệ Ngân Hà này. Vào thời kỳ ấy, khoa học kỹ thuật của họ đạt trình độ cao trong toàn bộ hệ Ngân Hà. Với dã tâm cường đại, họ còn muốn thống trị cả hệ Ngân Hà. Cuối cùng, trải qua nỗ lực của nhiều thế hệ nhân loại trên Trái đất, họ đã chinh phục được một phần ba hệ Ngân Hà. Trong quá trình xâm lược, họ còn liên kết với rất nhiều hành tinh khác có trình độ công nghệ tương đương với họ, rồi phát động một số cuộc đại chiến giữa các hành tinh. Trong quá trình đó, họ đã bắt rất nhiều người ngoài hành tinh làm nô lệ, có nhiều sinh mệnh của các tinh cầu khác bị bắt bỏ vào lồng giam để người Trái đất thưởng ngoạn. Ngoài vũ khí hủy diệt ra, họ còn chế tạo ra loại vũ khí gen, đây là một loại thuốc biến đổi gen khi đưa vào cơ thể của người nam hoặc nữ sẽ khiến cho con cái họ sinh ra bị dị hình dị dạng, cuối cùng không quá ba thế hệ, chủng tộc đó sẽ bị diệt chủng.

Nói về quốc gia sinh tồn dưới lòng đất, họ có một trạm phát điện chủ đạo vận hành bằng năng lượng lượng tử, phân phối cho bảy trạm phát điện phụ, đáp ứng tất cả nhu cầu năng lượng của toàn quốc. Họ còn áp dụng kỹ thuật biến đổi gen lên các loài động vật nuôi, khiến chúng có thể giao tiếp được với con người, thậm chí có thể nói được một số câu đơn giản bằng ngôn ngữ của người. Thời kỳ văn minh của họ tồn tại trong vài ngàn năm rồi cuối cùng bị hủy diệt hoàn toàn. Nền văn minh ấy đã bị người ngoài hành tinh từ chòm sao Ma Yết (Capricorn) có trình độ khoa học kỹ thuật cao cấp hơn hủy diệt. Người ngoài hành tinh xâm lược Trái đất ấy có sức mạnh vô cùng to lớn, họ có ngoại hình nửa thú giống với loài Atula. Họ đã phá hủy trạm phát điện chính của quốc gia dưới lòng đất, triệt để tiêu hủy mọi thứ, đại đa số người dân dưới lòng đất đều không trốn thoát được. Toàn bộ lục địa lớn ấy trở thành hoang mạc, chỉ còn một số ít loài động thực vật biến dị còn tồn tại.

Tuy nhiên nhân loại trên Trái đất không bị tuyệt diệt hết, vẫn còn một số người đã di cư đến các tinh cầu khác trước khi đại chiến nổ ra, và trong quá trình xâm lược trong quá khứ cũng có nhiều người định cư tại các hành tinh khác, họ đã quay trở lại Trái đất và sinh sống trên các lục địa nhỏ, khai sáng một nền văn minh mới, cũng có thể nói đây là một nền văn minh được nối tiếp liên tục, có điều không còn phát triển được như trước nữa mà dần dần thoái hóa. Trong thời gian đó có một số đã di cư lên sao Hỏa, hiện nay vẫn có con người đang sống trên sao Hỏa, họ chính là tổ tiên của chúng ta từ nền văn minh tiền sử.

Tóm lại, vạn vật trong vũ trụ đều phát triển theo quy luật từ thấp đến cao, rồi lại từ cao xuống thấp, cứ tuần hoàn như vậy. Mọi thứ trên thế gian đều không tồn tại mãi mãi, cuối cùng đều đến hồi kết thúc.

3. Bí ẩn về chiếc pin Baghdad

Một ngày mùa hè năm 1936, tại làng Parthia thuộc ngoại ô thành phố Baghdad, thủ đô của nước Irad, một công nhân xây dựng đường sắt đã tình cờ phát hiện một ngôi mộ cổ được xây bởi những khối đá lớn, trên mặt khối đá có nhiều ký tự chữ Ba Tư cổ đại. Trong quan tài đá có rất nhiều vàng bạc châu báu, ngoài ra còn phát hiện một vật kỳ lạ, đó là một chiếc pin hóa học được cấu tạo bởi đồng, sắt và gốm. Đây chính là chiếc bin Baghdad nổi tiếng thế giới.

Đến nay, pin Baghdad vẫn là một ẩn đố vĩnh viễn không có lời giải và không được giới khảo cổ công nhận, các loại suy luận, giả thuyết đều không thể giải thích được nguồn gốc của pin Baghdad. Hôm nay, tôi muốn tiết lộ nguồn gốc thần bí của chiếc pin Baghdad này.

Để truy tìm gốc rễ của chiếc pin Baghdad, không thể không đề cập đến một nền văn minh tiền sử không được ghi chép lại trong sử sách. Trong cảnh giới của tôi triển hiện hình ảnh của 23800 năm trước, tại đại lục Tây Phi có một quốc gia rất phát triển tên là Á Đô Thuật (nghĩa là quốc gia mà chúng Thần cư ngụ), quốc gia này theo chế độ quân chủ lập hiến, nhân khẩu gần 8.000.000 người, họ thuộc chủng người da ngăm đen. Người dân ở đây lương thiện, chất phác, họ rất thành kính và tín ngưỡng Thần. Họ chú trọng việc nghiên cứu thân thể người, các hành tinh và vũ trụ, họ đã đạt trình độ khá cao về phương diện phát triển tiềm năng con người. Họ coi trọng mối quan hệ giữa thân thể người với tự nhiên và vũ trụ, họ nghiên cứu và thực nghiệm các nhận thức và lý luận liên quan đến vấn đề này.

Trong quá trình luân hồi, tôi cùng một đồng tu mà tôi quen biết đã chuyển sinh vào vương triều thứ ba của nước Á Đô Thuật, lúc đó tôi là nhân viên thần chức, cai quản việc hậu cần và tài chính của quốc gia. Đồng tu trong đời đó tên là Á Địch (nghĩa là sứ giả của Thần), do căn cơ tốt nên từ nhỏ cô đã có rất nhiều năng lực siêu thường, cô là thiên tài có một không hai trong giới tu hành của vương quốc này, là đối tượng được quốc gia chú trọng bồi dưỡng, từ nhỏ đã được giới tu đạo ở cảnh giới cao quan tâm, cô bắt đầu tu luyện từ khi năm tuổi. Trải qua hơn 20 năm khổ tu, năm 30 tuổi, Á Địch đã đạt trình độ khá cao cả về tu luyện và công năng pháp thuật, những người trong giới đạo sĩ cảnh giới cao có sở trưởng đặc biệt như Á Địch trên toàn quốc có không quá 10 người. Sở trường của Á Địch là vượt thời không (thời gian và không gian). Lúc đó tôi có quan hệ rất thân thiết với Á Địch, tôi thường góp ý kiến cho Á Địch về việc vượt thời không để giúp cô hoàn thành nhiệm vụ mà quốc gia giao phó, sứ mệnh của Á Địch là tìm hiểu về lịch sử quá khứ và tương lai của Trái Đất. Trình độ khoa học kỹ thuật khi đó rất phát triển, mặc dù Á Địch hoàn toàn có thể dùng pháp lực thần thông để vượt thời không, nhưng các nhà khoa học lúc đó còn nghiên cứu ra một cỗ máy vượt thời không để hỗ trợ cho cô. Cỗ máy này có đường kính 10 mét, có thể ngồi được hai người, phía trước có một cửa sổ hình vòng cung, cỗ máy hoạt động bằng năng lượng phân tử vi quan, nó ở trạng thái bán tàng hình, nó được điều khiển bằng ý niệm của con người. Cỗ máy vượt thời không này có thể giúp cô tăng thời gian lưu lại tại một không gian khác.

Một lần, Á Địch vượt thời không đến một ngôi làng nhỏ tại nước Ba Tư cổ đại ở thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, một người chăn dê gần đó tận mắt chứng kiến cỗ máy vượt thời không hạ xuống, ông tưởng rằng Thiên thần hạ giới trước mắt nên vô cùng cảm động, do đó ông đã giữ lại chiếc pin năng lượng cũ mà cỗ máy vượt thời không đã bỏ lại sau khi thay pin mới. Chiếc pin này có năng lượng rất lớn và nó có thể giải phóng nhiệt lượng. Người chăn dê coi nó là vật tín của Thần nên đời đời lưu truyền, chiếc pin được truyền đến đời con cháu của ông ở thế kỷ 18. Chiếc pin trở nên nổi tiếng và nhiều người quyền quý, giàu có muốn sở hữu nó. Để giữ cho chiếc pin không bị kẻ khác lấy mất, con cháu của người chăn dê quyết định chôn chiếc pin cùng với một số đồ vật quý giá trong quan tài của một người thân đã mất. Trong quá trình lưu truyền, lớp vỏ ngoài làm bằng sợi cacbon của chiếc pin cũng dần dần bị bào mòn, nó được người đời sau thay bằng lớp vỏ sứ. Đây cũng là chỗ mà các nhà khảo cổ học hiện nay không thể nghiên cứu ra được, bởi kết cấu bên trong và bên ngoài của chiếc pin là những thứ không cùng một thời đại, cho nên con người hiện nay dù có suy đoán, giả thiết thế nào cũng không suy đoán ra được. Kỳ thực, con đường phát triển của khoa học hiện nay đã bó buộc tư duy của con người, muốn giải khai rất nhiều những ẩn đố trên Trái đất thì thực sự phải nhảy ra khỏi những quan niệm cố hữu mà nhận thức bằng một phương pháp tư duy khác.

Á Địch tu luyện trong người thường hơn 200 năm, trải qua hai triều đại quốc vương, cô đã nhiều lần vận dụng pháp thuật thần thông để vượt thời không, du hành về lịch sử và tương lai, tìm hiểu mọi ngóc ngách của Trái đất, cô là một nhà du hành thời không nổi tiếng. Mặc dù cô có thể tiến vào bất cứ thời đại nào, nhưng lại không được phép mang về bất cứ nhân tố vật chất nào của thời đại đó, nếu không sẽ khiến cho trường thời không vật chất của bản thân cô bị loạn, cô cũng sẽ không thể nào trở lại thời đại của mình được nữa. Tuy nhiên, thông qua toàn bộ những hình chiếu lưu lại trên máy thời gian, cô có thể giữ lại những hình ảnh của quá khứ và tương lai, dùng phương thức này để tham khảo, tìm hiểu những nền văn minh khác nhau, từ đó bổ sung cho những mặt còn thiếu sót của xã hội thời đó. Vào thời đại này, có rất nhiều đạo sỹ ở các cảnh giới cao đều dự đoán được rằng trong tương lai, vị vương của vũ trụ sẽ hạ xuống thế gian, truyền bá Đại Pháp của vũ trụ để cứu chúng sinh, cho nên những đạo sỹ vượt thời không như Á Địch sẽ không xuất hiện trong vòng 2000 năm của thời kỳ văn minh lần này, họ biết rằng Thần đang chuẩn bị một cách có hệ thống cho sự kiện này, vậy nên không cho phép bất kỳ ai can nhiễu, phá hoại.

Mọi mặt đời sống, xã hội của vương triều Á Đô Thuật đều chịu ảnh hưởng của khoa học nhân thể. Trong nông nghiệp, họ sử dụng siêu năng lượng lựa chọn ra những giống loài động, thực vật tốt nhất để gieo trồng và chăn nuôi, các sản phẩm cây trồng không những cho ra quả to mà còn giàu chất dinh dưỡng. Về công nghiệp, chính phủ cử những người có công năng thấu thị và cảm nhận để thăm dò khoáng sản, đo lường cảm ứng trường năng lượng của tài nguyên khoáng sản, từ đó tìm ra một cách chuẩn xác các kim loại hiếm, hỗ trợ cho công nghiệp phát triển, nhưng các loại máy móc chỉ có tác dụng hỗ trợ cho siêu năng lượng của con người.

Các vương triều Á Đô Thuật đều giữ gìn được tư tưởng tôn trọng tự nhiên, nhân văn, kính trọng trời đất, họ tạo ra những vườn hoa ở khắp nơi. Những khu rừng rậm rạp, mênh mông, những thảo nguyên bát ngát, đầy hoa thơm và chim hót, sống trong môi trường như vậy khiến tâm thái con người rất yên bình, hòa ái, con người cùng chung sống hòa hợp với tự nhiên.

Thời đại hưng thịnh của vương triều Á Đô Thuật mặc dù không có nhiều cuộc chiến tranh, khắp nơi hòa bình, nhưng lực lượng quân sự của họ lại hùng mạnh nhất so với các thời đại lịch sử mà tôi từng thấy. Lúc đó cũng có các tín đồ tà giáo phát động chiến tranh, phương pháp giải quyết chiến tranh của vương quốc Á Đô Thuật cũng rất đặc biệt. Họ chiêu tập những người có siêu năng lượng và pháp lực thần thông mạnh nhất trong nước, trực tiếp sử dụng thần thông tiêu diệt nhục thân của những kẻ ác phát động chiến tranh tại nhân gian. Trước khi lên kế hoạch chiến tranh, họ liền tiêu trừ những âm hồn và kẻ ác phát động chiến tranh, tiêu diệt cuộc chiến tranh ngay khi nó vừa nảy sinh. Nếu có kẻ địch xâm lược, họ sẽ sử dụng vũ khí khí tượng để tiêu diệt kẻ địch. Nếu vào mùa hè nóng bức, họ sẽ phái nhiều người có pháp thuật hùng mạnh bao vây quân địch ở một nơi đã định, sử dụng pháp thuật làm nhiệt độ ở khu vực đó giảm xuống âm 20 độ C, khiến cho quân địch đang mặc trang phục mùa hè không có sự chuẩn bị trước sẽ chết vì lạnh, toàn quân tan rã.

Vương quốc Á Đô Thuật trải qua bảy đời vương triều, kéo dài mấy trăm năm, đến vương triều thứ bảy thì cũng giống như rất nhiều nền văn minh khác, toàn bộ đạo đức xã hội đều trượt dốc, nhân tâm sa đọa, đen tối, tôn giáo sau nhiều lần sửa đổi đã không còn tín ngưỡng chính Thần nữa, họ bắt đầu tín ngưỡng ma quỷ. Sau một thời gian, họ bị trời trừng phạt, các trận đại dịch hoành hành khắp nơi đã khiến vương triều cuối cùng đi đến diệt vong.

Lịch sử như bánh xe xoay chuyển, thoáng chốc đã hàng triệu năm trôi qua, trải qua bao thế sự xoay vần, vật đổi sao rời, những vương triều hùng mạnh xưa kia trong nháy mắt đều đã tan thành mây khói, chôn vùi trong dòng sông dài lịch sử cuồn cuộn chảy.

4. Truyền thuyết về người cá

Ở phương Tây từ xưa đến nay người ta đều lưu truyền những truyền thuyết về sự tồn tại của người cá, nhưng người cá có thực sự tồn tại hay không lại là câu hỏi mọi người đều thắc mắc mà không đưa ra được kết luận nào. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kỹ thuật quay phim, chụp ảnh, nhiều người ở khắp nơi trên thế giới đã vô tình quay được những hình ảnh ẩn hiện của người cá. Thật thật giả giả càng khó mà phân biệt được. Vậy người cá có thực sự tồn tại không? Câu trả lời là có. Trong cảnh giới tu luyện của tôi triển hiện: vào 23.000 năm trước tại khu vực biển Đại Tây Dương có một chủng loài đặc biệt sinh sống, họ là những chủ nhân của biển – chủng người cá. Lúc đó là thời kỳ văn minh hưng thịnh trên Trái Đất, trên Trái Đất đồng thời tồn tại cả người khổng lồ, người trung bình và người tí hon. Người trung bình thống trị trên các đại lục chính. Bản khối đại lục không khác nhiều so với ngày nay, quốc gia nằm ở đại lục Châu Âu có khoa học kỹ thuật vô cùng phát triển. Ở đại lục Bắc Mỹ, nền văn minh Maya lúc đó cũng đang phát triển hưng thịnh. Còn vùng biển xung quanh đại lục nơi mà chủng người da trắng sinh sống có rất nhiều bộ lạc người cá sinh sôi phát triển.

Chủng người cá là một quần thể sinh mệnh rất đặc biệt, một loại nửa thân trên là người, nửa thân dưới là cá, một loại khác có nửa thân trên là cá, nửa thân dưới là người với hai chân. Người cá cao khoảng 2,5m, tóc màu nâu nhạt, làn da có màu xám trắng lóng lánh như ánh trăng, mắt màu xanh sẫm, hai tai áp sát vào thân thể, vành tai rất nhỏ, trong tai có màng chống nước. Toàn thân họ bao phủ bởi một lớp vảy, hai bên má họ có vảy mịn. Người cá có thể sống được cả trên bờ và dưới nước bởi vì họ có cả mang và phổi, họ có thể sống ở trên bờ 2 đến 3 tiếng. Một chủng người cá khác chỉ có mang, loại này không thể sống trên cạn. Người cá sinh sản bằng cách mang thai, một người cá nữ chỉ có thể mang thai một lần trong đời. Người cá nam thiên về trọng lượng, thân thể họ có thể nặng đến 500 kg, người cá nữ thì thiên về công năng pháp thuật, họ có năng lực siêu thường. Tuổi thọ của họ khá cao, thường có thể sống đến hơn 200 tuổi, người cá nữ có thể sống trên 300 tuổi.

Bộ lạc người cá sử dụng các loại tảo biển, rong biển làm thức ăn. Có lúc họ cũng vây bắt những loài cá lớn, giết các loài cá voi và cá mập nhỏ. Vua của người cá sẽ dựa vào biến đổi của thủy triều để triệu tập hội nghị các bộ lạc người cá, họ cùng nhau trao đổi tình hình ở các đại dương, bàn luận việc bảo vệ cân bằng sinh thái đại dương và sự phát triển của chủng người cá trong tương lai.

Tộc người cá thờ phụng Thần biển, họ sử dụng những cung điện của các nền văn minh tiền sử bị chìm xuống đáy biển làm nơi thờ phụng Thần biển, trong điện Thần vẫn tồn tại những câu thần chú viết bằng chữ tượng hình và các bài vị được khắc trên đá của người tu hành mật pháp do những người cá tu hành đắc đạo lưu lại. Đây là cấm địa của bộ lạc người cá, chỉ có vua, hoàng hậu và những người cá tu luyện ở cảnh giới cao thâm mới được ra vào. Nó chỉ được mở cửa khi có những hoạt động tôn giáo lớn hàng năm. Những vật chất dùng để chiếu sáng trong điện Thần rất đặc biệt, họ dùng một loại khoáng thạch có chứa ma-giê và sử dụng pháp thuật để thắp sáng lên. Khoáng thạch này tạo nên một ngọn lửa màu xanh trắng ở trong nước, khiến cho cả cung điện rực sáng, những ngọn lửa này trải qua bao năm tháng chưa bao giờ tắt. Phương thức tu luyện của người cá là hàng ngày cầu nguyện trước Thần biển. Họ chú trọng thiên, hải, nhân hợp nhất. Cùng với việc đề cao tâm tính, cảnh giới tu luyện của họ cũng không ngừng thăng hoa, nhưng do đặc thù kết cấu thân thể của người cá, đan điền của họ không có chức năng như con người, nên người cá phải qua nhiều lần chuyển sinh mới có thể tu thành quả vị, thông thường họ phải chuyển sinh bảy đời. Vua của người cá cũng phải tu luyện đạt đến cảnh giới Bồ Tát Pháp trở lên. Hoàng hậu người cá có thần thông pháp lực vượt khỏi những gì mà chúng ta có thể tưởng tượng, thậm chí bà có thể chiêu gọi vong hồn của các sinh linh dưới biển và các động vật biển tham gia chiến đấu, trong địa phận biển, bà có thể dùng năng lực siêu thường của mình để tạo nên những trận sóng thần rất lớn.

Vào thời kỳ mà vương quốc người cá thống trị biển, thế giới hải dương rất ít xảy ra chiến tranh. Mỗi bộ lạc cai trị một vùng biển với các phương thức khác nhau, họ đều được Thần công nhận. Thời gian trôi đi rất nhanh, đến năm thứ 180 trong thời kỳ cai trị của vua người cá, hôm đó, vua người cá nhận được tin do một tộc trưởng bộ lạc người cá gửi đến. Thời gian này rất nhiều sinh vật trong thế giới hải dương bị một con quái vật biển không rõ danh tính ăn thịt, rất nhiều người cá cũng không may là nạn nhân của con quái vật. Sự việc này gây nên một chấn động mạnh mẽ trong bộ lạc người cá. Vua người cá hiểu được tính nghiêm trọng của vấn đề, trong khi thiền định, ông đã nhìn thấy được bộ mặt thật của con quái vật biển. Nó vốn là một con rắn biển đã thành tinh gây sóng gió ở khu vực đáy biển Bắc Băng Dương, con rắn biển thành tinh này đã tu hành 788 năm, nó dài khoảng 8m, đường kính thân lên đến 2m, toàn thân đen nhánh, hai con mắt đỏ ngầu, hai đồng tử màu vàng kim phát ra hai luồng ánh sáng hung hãn, độc ác. Thân thể con rắn này phóng ra chất kịch độc, khiến những sinh vật trong vòng bán kính mấy km dưới biển không thể sống nổi. Vua và hoàng hậu người cá đã bàn bạc, vạch ra kế hoạch bí mật trừ yêu.

Hoàng hậu người cá tay cầm một pháp trượng nhỏ làm bằng pha lê màu trắng bạc, dẫn theo 180 dũng sỹ người cá, mỗi người mang theo những chiếc khiên với những mấu gai tẩm chất độc, họ mai phục ở xung quanh hang động dưới đáy biển nơi con quái vật cư ngụ, họ cũng rắc xung quanh đó một loại thức ăn kịch độc do đích thân hoàng hậu bào chế từ những loài sinh vật có độc dưới biển, rồi phái một người cá nhỏ ăn no nê làm mồi nhử để dụ rắn ra khỏi hang, quả nhiên con rắn trúng kế, rơi vào vòng vây. Con rắn ăn phải thức ăn có độc, khiến thần kinh tê liệt. Lúc này hoàng hậu tay cầm pháp trượng khảm ngọc màu lam, phóng một luồng năng lượng bao phủ lấy đầu con rắn, khiến con rắn không thể nào thi triển phép thuật được, nó vùng vẫy thục mạng. Cùng lúc đó, những dũng sĩ người cá phóng ra những chiếc khiên có gai độc, hàng trăm gai nhọn độc găm lên mình rắn, con rắn lập tức mất mạng. Cuối cùng vua người cá đọc thần chú phong ấn linh hồn con rắn vĩnh viễn trong bộ hài cốt của nó, bị chôn vùi cùng xác con rắn dưới tận cùng đáy biển Bắc Băng Dương, đến giờ nó vẫn tồn tại ở đó. Vua người cá tu hành dưới biển gần 7.000 năm, cuối cùng ông được Thần triệu hồi, khai thị rằng trong tương lai còn có sứ mệnh lịch sử phải hoàn thành, phải chuyển sinh đến thế gian con người, bắt đầu một tiến trình sinh mệnh mới.

Ngày nay tại các đại dương trên thế giới vẫn có hơn 8000 người cá sinh sống, họ chủ yếu phân bố ở vùng đáy biển Đại Tây Dương và vùng biển châu Úc. Người cá là một quần thể sinh mệnh đặc biệt trong thế giới đại dương, qua hàng trăm triệu năm đằng đẵng, dưới sự dẫn dắt của Thần, họ đã trải qua những thăng trầm trong thế giới đại dương ở phương Tây. Trong tương lai, chủng tộc người cá vẫn tiếp tục sinh tồn và không ngừng phát triển.

5. Tam giác Bermuda – cánh cửa thời không

Bán đảo Florida hợp với đảo Puerto Rico thuộc vùng biển Caribe và quần đảo Bermuda tạo thành một vùng biển tưởng tượng gọi là khu vực tam giác Bermuda. Hơn 100 năm trước, vô số tàu thuyền và máy bay đã bị mất tích bí ẩn ở khu vực này, một con tàu ma không người lái thoắt ẩn thoắt hiện, sóng vô tuyến bị mất tín hiệu, kim la bàn không ngừng quay tròn …, vùng biển này khiến con người hiện đại vô cùng nghi hoặc và khó hiểu. Mỗi năm có hàng ngàn người bỏ mạng nơi đây, xung quanh những câu chuyện ly kỳ xảy ra ở tam giác Bermuda, các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đưa ra rất nhiều suy luận và giả định. Tuy nhiên, đối với người tu luyện, những suy đoán và giả định của khoa học hiện đại chỉ như người mù sờ voi, không thể nào tìm hiểu được nguyên nhân thực sự đằng sau những câu chuyện ly kỳ này. Trong cảnh giới tu luyện của tôi triển hiện, nguyên nhân các con tàu và máy bay mất tích bí ẩn ở vùng biển Bermuda là do trường không gian ở đó có những cánh cửa thời không được mở vào những thời điểm khác nhau.

Những cánh cửa thời không này hình thành vào hàng triệu năm trước, khi các hành tinh va chạm vào Trái đất, những cú va chạm cực lớn tạo thành những đường đứt gãy trên bản khối đại lục của Trái đất, những vụ nổ lớn như vụ nổ hạt nhân liên tục tạo nên những tổn thương khó vãng hồi cho không gian của chúng ta, chúng cũng gây ra những phá hoại cực lớn cho các tầng lạp tử đối ứng với Trái đất ở các không gian khác, các vụ nổ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các không gian này, gây nên những biến đổi lớn lao, long trời lở đất. Những lạp tử cấu thành nên vật chất và thời gian của nhân loại và những lạp tử ở không gian khác đã sinh ra lực cộng hưởng làm tiêu trừ sự sai lệch về vật chất giữa hai thời không, từ đó hình thành nên cánh cửa thời không. Những cánh cửa thời không vốn dĩ có thể đóng lại, nhưng vì một lý do nào đó, các sinh mệnh cao tầng đã không đóng nó lại, trong giai đoạn này chưa thích hợp để nói rõ nguyên nhân cụ thể. Hàng triệu năm nay vẫn luôn có những sinh mệnh cao tầng canh giữ cánh cửa thời không, không cho phép những sinh mệnh ở các không gian khác nhau tùy ý ra vào, sở dĩ có các hiện tượng kỳ dị xuất hiện là vì có nguyên nhân lịch sử thâm sâu. Còn có hai cách khác để mở cánh cửa thời không: một là bản thân tiểu vũ trụ chính là một thể sinh mệnh, các không gian đối ứng với vũ trụ đều có quan hệ với nó, sự biến đổi và vận động của vật chất trong tiểu vũ trụ có thể hình thành nên cánh cửa thời không; hai là các sinh mệnh cao tầng trong các không gian khác nhau của vũ trụ đều có khả năng mở cánh cửa thời không.

Không chỉ cánh cửa thời không là nguyên nhân gây ra những hiện tượng mất tích bí ẩn tại vùng biển Bermuda, còn có một nguyên nhân quan trọng khác chính là người ngoài hành tinh. Từ thời tiền sử, nơi đây đã có người ngoài hành tinh cư ngụ, trong lòng biển sâu tối tăm có một khu vực do người ngoài hành tinh xây dựng, khu vực rộng lớn này kéo dài trong phạm vi gần 100 km dưới đáy biển, họ còn cải tạo những kim tự tháp từ thời tiền sử bị chìm sâu dưới đáy biển để sử dụng. Những người ngoài hành tinh này đến từ thiên hà Thiên Nga xa xôi, họ là những sinh mệnh có trí tuệ cao cấp ở đó. Họ cao khoảng 1,5 m, da màu trắng xám, họ có một đôi mắt đen không có lòng trắng, tóc màu trắng xám, con đường phát triển khoa học kỹ thuật của họ vô cùng độc đáo theo mô hình sinh vật, hoàn toàn không giống với con đường phát triển khoa học kỹ thuật của nhân loại chúng ta. Do hành tinh mà họ sinh sống sắp sửa bị giải thể trong chính Pháp vũ trụ, những người ngoài hành tinh này không có nơi nào để đi, nên họ lựa chọn đến Trái đất để lánh nạn. Họ tìm hiểu được rằng vùng biển Bermuda là một khu vực không giống những nơi khác, bởi vì khu vực này nằm ở 30 độ vĩ bắc, ở đó có một vành đai năng lượng quan trọng giúp cho Trái đất tự chuyển động, lại thêm trường năng lượng thời không rất mạnh ở Bermuda, nơi này rõ ràng là rất đặc biệt. Trường năng lượng này có thể cung cấp đủ nguồn năng lượng cho người ngoài hành tinh, giúp họ giải quyết vấn đề nhu cầu tiêu thụ năng lượng cho vùng đất của họ. Người ngoài hành tinh coi đây là lãnh địa của họ, bất cứ sinh mệnh nào tự tiện xông vào vùng biển hoặc bầu trời ở đây đều đối mặt với nguy cơ bị hủy diệt. Trong rất nhiều trường hợp bị mất tích ở đây có một phần không nhỏ do bàn tay của người ngoài hành tinh gây nên, sau đây tôi kể ra một vài trường hợp điển hình nhằm tiết lộ sự thực phía sau:

Năm 1945, năm chiếc máy bay oanh tạc của Mỹ đã mất tích bí ẩn khi bay qua vùng biển Bermuda. Sự việc này khiến cả thế giới chấn động, nước Mỹ đã phái hơn 300 máy bay và bốn tàu chiến hạm đi tìm kiếm, họ đã mất 4100 giờ tìm kiếm trong một khu vực rộng 950.000 km2. Vậy mà vẫn không tìm thấy gì. Trong vài giờ ngắn ngủi, năm chiếc máy bay cùng 27 phi hành viên thuộc phi đội 19 đã bốc hơi không dấu vết. Tuy nhiên, vào những năm 80 của thế kỷ trước, lại có thêm phát hiện mới về sự kiện này, năm chiếc máy bay lần lượt được phát hiện tại hai nơi khác nhau. Năm 1987, nhà khoa học thuộc trung tâm vũ trụ Liên Xô, tiến sỹ Makiev đã nhận được hình ảnh rada vệ tinh do máy thăm dò hành tinh gửi về, trên miệng núi lửa trên Mặt trăng có một chiếc máy bay oanh tạc của Mỹ từ thời chiến tranh thế giới lần thứ hai, xem ký hiệu trên thân máy bay thì chính là một trong năm chiếc máy bay thuộc phi đội 19, đúng lúc Mỹ và Liên Xô muốn nghiên cứu kỹ hơn thì chiếc máy bay này lại biến mất.

Mấy năm sau, năm 1996, một nhà khoa học người Mỹ, tiến sỹ Kelutin bằng kính viễn vọng thiên văn máy tính đã phát hiện trong không trung mấy nghìn mét trên Sao hỏa có bốn chiếc máy bay oanh tạc của Mỹ trong thế chiến thứ hai đang bay với tốc độ 40.000 km/h. Bốn chiếc máy bay này chính là những chiếc máy bay thuộc phi đội 19 bị mất tích. Vậy ai đã gây nên vụ mất tích suốt nửa thế kỷ này?

Tôi thấy rằng chính những người ngoài hành tinh thuộc thiên hà Thiên Nga sống tại vùng biển Bermuda đã gây ra sự việc này. Ngày hôm đó, tàu phi hành của người ngoài hành tinh tàng hình tiến vào giữa các máy bay oanh tạc đang bay trên địa phận Bermuda. Họ khống chế tư tưởng của các phi hành viên, rồi đưa máy bay lên một chiếc đĩa bay khổng lồ, trong đĩa bay phóng ra một luồng sáng và năm chiếc máy bay trong phút chốc bị hút vào trong đĩa bay. Đĩa bay lặn xuống đáy biển, các phi hành viên trong máy bay bị đưa đến vùng đất của người ngoài hành tinh. Lúc đó, các phi hành viên nhìn thấy một thế giới xa lạ với những người ngoài hành tinh hình dạng kỳ dị, trong lòng họ tràn đầy sợ hãi, mặc dù ý thức vẫn thanh tỉnh nhưng thân thể họ lại rơi vào trạng thái tê liệt, tứ chi không thể cử động được. Trong số 27 phi hành viên có năm người bị giữ lại dưới đáy biển để làm các loại thí nghiệm thân thể. Trong số năm người này, người sống lâu nhất được 13 năm. Những người còn lại bị người ngoài hành tinh dùng năng lượng trong nháy mắt vật chất hóa, thân thể bị biến thành dạng phân tử. Người ngoài hành tinh phóng ra một chùm năng lượng giống như con đường vận chuyển trong không gian khác, một chiếc máy bay được đưa lên vùng đất phía sau trên Mặt trăng, bốn chiếc máy bay còn lại bị đưa đến Sao hỏa. Ở độ sâu 1500 m đến 4000 m dưới lòng đất trên Sao hỏa có một khu vực rộng lớn cũng do người ngoài hành tinh thuộc thiên hà Thiên nga xây dựng. Dưới lòng Sao hỏa có hồ nước chứa muối kiềm, người ngoài hành tinh lấy nước trong hồ tinh lọc thành nước uống để sử dụng. Năm đó, thứ mà tiến sỹ Kelutin nhìn thấy chính là thí nghiệm của người ngoài hành tinh. Họ dùng năng lượng làm biến đổi kết cấu và vật liệu của chiếc máy bay, sau đó làm thí nghiệm gia tốc để kiểm tra xem nếu dùng kỹ thuật của người ngoài hành tinh kết hợp với vật liệu của người Trái đất rồi tăng tốc cho máy bay để nó tiến nhập vào không gian khác thì nó có thể bị tiêu hủy không. Hiển nhiên là thí nghiệm này không thể thành công, vật chất phân tử tại không gian người thường khi tiến nhập vào không gian vi quan hơn, nếu không có năng lượng cực đại thì sẽ bị tiêu hủy trong phút chốc.

Thuận theo tiến trình chính Pháp, những người ngoài hành tinh sống trên Sao hỏa đã phát hiện rằng những nhân tố vật chất trên Sao hỏa rất không ổn định, nó cũng sắp bị giải thể, chỉ có môi trường kết cấu của Trái đất là ổn định nhất, do vậy họ đã lũ lượt rời khỏi Sao hỏa quay trở về Trái đất. Đến nay vùng đất mà người ngoài hành tinh xây dựng trên Sao hỏa đã bị bỏ hoang, trở thành một đống hoang tàn, đổ nát. Phía sau Mặt trăng cũng có người ngoài hành tinh cư ngụ, lúc nhiều nhất có hơn một trăm sinh vật ngoài hành tinh, đến nay chỉ còn lại hai người ngoài hành tinh sống trên đó, họ không có cơ hội sống sót.

Tháng 9 năm 1931, một chiếc tàu săn bắt cá voi của Canada mang nhãn hiệu Baychimo vận chuyển hàng hóa da và lông thú trị giá hàng triệu USD, tàu lênh đênh trên biển mười mấy ngày, khi sắp đến đảo Wainwright ở gần Alaska thì gặp một trận bão tuyết dữ dội, chiếc tàu bị mắc kẹt trên mặt băng không thể di chuyển được. trong vòng một tuần, chiếc tàu này đã biến mất hai lần, tuy nhiên trong vòng 15 năm sau đó, con tàu Baychimo thi thoảng lại xuất hiện, nó giống như một con tàu ma phiêu dạt trên biển, nhưng mấy chục năm nay thì không ai nhìn thấy con tàu đó nữa. Vậy rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra?

Tôi trông thấy con tàu này đã bị chìm dưới đáy biển Bắc băng dương vào năm 1944, thân tàu cho đến nay vẫn còn nguyên vẹn ở đó. Còn con tàu phiêu dạt trên biển suốt nhiều năm thực ra là do một nhóm vong hồn âm thầm thao túng. Những vong hồn này từng là các thuyền viên của một con tàu săn tìm báu vật của Tây Ban Nha. Khi còn hoạt động trên biển, những thuyền viên trên con tàu này đã từng gây ra rất nhiều tội ác như đốt nhà, giết người, cướp của trên các đảo tại nam Thái bình dương. Điều này khiến cho thầy phù thủy của thổ dân trên đảo tức giận, tất cả những kẻ gây ra tội ác đều bị thầy phù thủy dùng pháp thuật hắc ám áp lên lời nguyền ác độc nhất, tất cả thuyền viên trên con tàu này đều chịu lời nguyền phải chết, sau đó một trận dịch bệnh đột nhiên ập đến cướp đi sinh mệnh của tất cả bọn họ. Do chịu lời nguyền, những người này sau khi chết đi không thể chuyển sinh, họ trở thành những cô hồn dã quỷ, những vong hồn này bị mất phương hướng trên biển cả mênh mông trong một không gian khác. Họ muốn tìm một con tàu có thể đưa họ trở về quê hương, vừa hay trên con tàu Baychimo có một vật dụng mà họ đã từng sử dụng, đó là một chiếc la bàn, tìm được tín vật này, các vong hồn đã xâm chiếm con tàu săn cá voi Baychimo. Con tàu bị điều khiển bởi các vong hồn này đã qua lại thời không ở vùng biển Bermuda suốt mười mấy năm.

Do các vong hồn chỉ nhìn thấy hình ảnh đối ứng ở không gian khác, cho nên dù họ có lái tàu đi khắp nơi cũng không thể tìm được đường trở về Tây Ban Nha. Con tàu Baychimo mà người ta nhìn thấy trên biển chẳng qua chỉ là hình ảnh phản chiếu của nó từ không gian khác đến đây mà thôi, con tàu ma quỷ này phiêu bạt khắp nơi, không những can nhiễu đến xã hội người thường mà còn phá hoại trật tự cân bằng trên biển, do vậy Thần biển cai quản vùng biển ở phương tây đã dùng pháp lực vĩ đại lưu đày những vong hồn này vĩnh viễn trên một hòn đảo ở Bắc băng dương, còn con tàu Baychimo thì vĩnh viễn chìm sâu dưới đáy biển Bắc băng dương.

Mỗi năm ở Bermuda có hàng ngàn người thiệt mạng, nhưng cũng có một số người sống sót trở về, sau đây tôi xin kể về một trường hợp “hồi sinh từ cõi chết”.

Sự việc xảy ra vào ngày 26 tháng 2 năm 1989, một con tàu đánh cá của Panama đang hoạt động tại vùng biển cách khu vực Bermuda 75 dặm về phía nam, thì phát hiện một tấm vải màu trắng trôi nổi trên mặt biển, kéo lên thì đột nhiên phát hiện bên trong có một người còn sống, người này tên là Michaelville Stokes, những giấy tờ tùy thân của anh ấy cho thấy anh ấy đã chết vì ung thư vào năm 1926. Bản thân anh cũng không nhớ nổi quá trình hồi phục của mình. Người này đã di cư đến Bermuda vào năm 1918, năm 1923 bị bệnh ung thư, anh ta qua đời vào ngày 24 tháng 3 năm 1926. Vợ con anh làm theo di nguyện của anh, đưa anh đi hải táng, sự việc đã trôi qua 63 năm, đột nhiên anh lại sống lại. Rốt cuộc đây là chuyện gì? Nguyên nhân thực sự nằm ngoài dự liệu của con người, tôi trông thấy nhục thân của người chết này bị một con thằn lằn biển đã tu hành suốt mấy trăm năm thành tinh nhập vào, nó chiếm hữu thân thể này. Đúng lúc gặp cánh cửa thời không trên biển mở ra, nhục thân này quanh quẩn trong đường hầm thời không suốt 7 ngày, khi trở về không gian người thường, do thời không nhanh chậm khác nhau, trên thế giới đã trôi qua 63 năm rồi. Lúc sinh mệnh này tỉnh lại thì không còn bất cứ ký ức nào trước đây nữa, như một người mất trí nhớ vậy, thân thể còn tồn tại nhưng bên trong lại là một linh hồn khác.

Trên thế giới còn có rất nhiều khu vực bí ẩn như Bermuda, nổi tiếng nhất trong số đó là vùng tam giác Ma Hải Long. Từ khu vực Bermuda thuộc Đại tây dương, men theo kinh tuyến xuyên qua lục địa Châu mỹ và Thái bình dương, cũng có một tam giác quỷ thuộc tây Thái bình dương gọi là tam giác “Ma Hải Long”. Nó nằm giữa Nhật Bản và đảo Mariana, thuộc khu vực núi lửa hoạt động, nó cũng nằm ở 30 độ vĩ bắc, dưới đáy biển có một rãnh rất sâu. Ở đây cũng có tồn tại cánh cửa thời không. Rất nhiều vụ mất tích ly kỳ xảy ra ở đây mà cho đến này các nhà khoa học vẫn chưa giải thích nổi.

Ngày 18 tháng 9 năm 1952, một con tàu nghiên cứu khảo sát của Nhật Bản có tên là “Hải dương ngũ hoàn” đã mất tích không dấu vết tại tam giác Ma Hải Long, trong quá trình tìm kiếm, người ta không thấy một mảnh vỡ nào của con tàu, hay một thi thể thuyền viên nào, không có vết dầu loang, không phát hiện ra bất cứ manh mối nào về con tàu trên vùng biển này. Vậy thì con tàu này rốt cuộc đã đi đâu?

Tôi nhìn thấy con tàu này lúc đó đi vào vùng biển Ma Hải Long, vừa đúng lúc lớp vỏ trái đất ở dưới đáy biển xuất hiện hiện tượng lạ làm thay đổi trường năng lượng vật chất thời không người thường, đồng thời liên tiếp cộng hưởng với trường năng lượng của thời không khác, con tàu “Hải dương ngũ hoàn” trong phút chốc bị cuốn vào cánh cửa thời không, nó chui vào trong đường hầm thời không. Khi mật độ vật chất cấu thành ở thời không khác trở nên ngày càng lớn trong không gian này, con tàu từ từ bị ép vỡ vụn, các thuyền viên trên tàu lúc đầu cảm thấy đầu đau nhức nhối, mỗi đốt xương và da thịt đều đau đớn vô cùng, cuối cùng họ mất đi ý thức và bị một sức mạnh tiêu hủy không còn dấu vết. Trong không gian khác đối ứng với không gian này, vùng biển này khắp nơi đều là những mảnh vụn của con tàu và những vết dầu loang trôi nổi trên biển.

Vùng biển Ma Hải Long cũng là có những người ngoài hành tinh đến từ thiên hà Bọ Cạp Ma cư ngụ, mục đích của họ đến Trái đất khác với những người ngoài hành tinh khác, họ là những kẻ hiếu chiến và khát máu, họ muốn xâm lược Trái đất, biến Trái đất thành thuộc địa của họ. Vụ máy bay riêng của tổng thống Phillipin bị mất tích chính là do bàn tay của họ. Ngày 19 tháng 3 năm 1957 trên vùng trời Ma Hải Long, chiếc máy bay này bị một vật thể bay tàng hình của người ngoài hành tinh bắn ra một chùm năng lượng màu xanh, toàn bộ máy bay bị bao phủ bởi năng lượng lạp tử mạnh mẽ, từ tầng bề mặt đến tầng nguyên tử đồng thời bị chùm năng lượng này giải thể thành trạng thái vật chất nguyên thủy, toàn bộ quá trình này chỉ diễn ra trong 10 giây, chiếc máy bay trong phút chốc biến mất không dấu vết trong không gian của chúng ta.

Người ngoài hành tinh Bọ Cạp Ma còn đưa khái niệm khoa học kỹ thuật của họ thâm nhập một cách hệ thống vào rất nhiều quốc gia trên Trái đất, Nhật Bản là nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Người ngoài hành tinh thường xuyên tàng hình ra vào xã hội Nhật Bản, chúng gây ảnh hưởng đến tư duy của người Nhật Bản. Công nghệ máy tính phát triển nhanh chóng và việc nghiên cứu phát triển các sản phẩm điện tử tiên tiến tại Nhật Bản cùng với việc tập trung nghiên cứu lĩnh vực khoa học về gen của con người đều do người ngoài hành tinh đứng đằng sau điều khiển. Bộ phim hoạt hình nổi tiếng “Robot đại chiến” chính là do chúng thao túng tư duy của người Trái đất để mô tả một loại trạng thái sinh tồn của các sinh mệnh ngoài hành tinh đã từng xuất hiện trong hệ Ngân hà. Khoa học kỹ thuật ngày nay của Nhật Bản đang phát triển dựa theo con đường này, thêm 200 năm nữa họ có thể chế tạo ra được những người máy có trí tuệ cao cấp sử dụng trong chiến đấu giống như phim “Robot đại chiến”.

Trên đây chỉ là một vài ví dụ đưa ra, hàng triệu năm nay những sự kiện ly kỳ xảy ra ở vùng biển Bermuda chỉ là một phần của tảng băng chìm. Tại Bermuda, ngoài những lực lượng siêu thường thao túng hết thảy còn có nhân tố con người gây nên, họ mượn tính chất thần bí của vùng biển này để tạo ra những tai nạn đường biển, đường không, sự mất tích và tử vong của con người, lẫn lộn trắng đen, khó mà phân biệt thật giả. Thực ra hết thảy sự việc hay con người xảy ra trên đời đều có mối quan hệ nhân duyên, nhìn thì có vẻ ngẫu nhiên nhưng lại không hề ngẫu nhiên.

Trong suốt mấy chục năm qua, những người ngoài hành tinh ở vùng biển Bermuda và Ma Hải Long thường xuyên quan sát xã hội nhân loại, tìm kiếm con đường đi đến tương lai cho bản thân mình, khi chịu sự xung kích của chính Pháp, họ cũng từng có ý đồ chống lại Thiên Pháp, nhưng phát hiện hết thảy đều là uổng công, kết quả của sự phản kháng chỉ có thể bị hủy diệt trong chính Pháp, do vậy họ không dám hành động gì nữa, giai đoạn này họ đang cố thủ ở Bermuda chờ đợi mọi việc an bài xong. Qua hoàn cảnh của người ngoài hành tinh tại Trái đất, tôi nhận thức thanh tỉnh một vấn đề, đó là những người ngoài hành tinh đến Trái đất này là do thiên hà mà họ sinh sống đã bị nổ tung, giải thể, hoặc đã được canh tân tiến vào vũ trụ mới được chính Pháp tạo ra, những người ngoài hành tinh này không được tịnh hóa đạt đến tiêu chuẩn của vũ trụ mới nên họ không thể trở về nơi họ đã từng sống, những cựu sinh mệnh trong vũ trụ không trải qua kiểm nghiệm tịnh hóa thì sẽ làm ô nhiễm vũ trụ mới. Người ngoài hành tinh đã vậy, nhân loại trên Trái đất cũng như vậy.

Những thăng trầm tại Bermuda đã trải qua hàng triệu năm lịch sử, từ cổ chí kim những người trên Trái đất đã từng vượt qua cánh cửa thời không kỳ quái ở Bermuda vẫn trăn trở về kiếp nhân sinh truyền kỳ của họ. Những sự việc đáng kinh ngạc và không thể tưởng tượng được này vẫn luôn là ẩn đố vĩnh hằng của nhân loại trong hiện tại và cả tương lai.

6. Hộp sọ pha lê – Nền văn minh bị thất lạc

Hộp sọ pha lê là một ẩn đố của thế kỷ, một ẩn đố lớn mà các nhà khảo cổ, các nhà khoa học, các thầy phù thủy và các nhân viên viện bảo tàng đã liên tục tranh luận suốt hơn 100 năm qua. Đến nay, người ta vẫn không cách nào hiểu được lý do tồn tại và công dụng của chúng. Rất nhiều người tin rằng những chiếc hộp sọ pha lê được phát hiện này là tác phẩm điêu khắc của nền văn minh cổ đại nào đó ở Trung Mỹ tồn tại từ hơn 1000 năm thậm chí hơn 10.000 năm trước, vậy thì lịch sử chân thực rốt cuộc như thế nào? Hôm nay đứng ở góc độ người tu luyện, tôi sẽ giải thích về ý nghĩa chân thực sự tồn tại của những chiếc hộp sọ pha lê này. Chúng ta hãy nói từ chiếc hộp sọ pha lê đầu tiên được phát hiện.

Năm 1924, nhà thám hiểm người Anh Mitchell-Hedges đã tìm thấy một chiếc hộp sọ pha lê trong một thành cổ ở Trung Mỹ. Chiếc hộp sọ này dài khoảng 18 cm, chiều rộng và chiều cao ước chừng 13 cm, nặng khoảng 5 kg, nó rất tinh xảo và thuần khiết. Hình dạng và kết cấu của nó gần như trùng khớp với sọ người, mặc dù bản thân chiếc hộp sọ không hề sáng bóng, nhưng nó lại có thể phát ra một thứ ánh sáng trong suốt không màu. Có lúc hộp sọ còn phát ra những âm thanh nghe như tiếng người đang ngâm nga nhẹ nhàng, kèm theo từng hồi chuông reo vang rộn ràng, vô cùng thần kỳ. Khi có người lại gần hộp sọ, nó sẽ khiến người nghe được âm thanh liên tưởng đến rất nhiều hình ảnh. Những người có tư tưởng tĩnh lặng khi đứng trước hộp sọ, thân thể sẽ cảm giác được một áp lực nào đó. Thỉnh thoảng nó cũng thay đổi diện mạo. Nó còn có thể thôi miên người quan sát. Những hiện tượng siêu thường này khiến cho chiếc hộp sọ pha lê vốn đã thần bí lại càng kích thích sự tò mò của mọi người. Vậy những hiện tượng này có thực sự tồn tại không? Hộp sọ còn có những hiện tượng gì mà con người chưa biết không?

Trong cảnh giới tu luyện của tôi triển hiện, chiếc hộp sọ pha lê này không thuộc về nền văn minh nhân loại lần này, nó là sản vật của nền văn minh nhân loại thời kỳ tiền sử, nó được điêu khắc bởi một người tu luyện tại lục địa Trung Mỹ vào 70.000 năm trước. Nó giống như một ổ đĩa vi tính cao cấp lưu trữ những thông tin về mọi phương diện con người, địa lý, xã hội, tôn giáo, khoa học v.v. Khi bị kích thích bởi dòng năng lượng mạnh, ở vị trí thiên mục giữa hai lông mày của hộp sọ sẽ phóng ra một chùm sáng, tạo nên một màn hình cách mặt đất khoảng năm mét, giống như một chiếc máy chiếu phim. 300 năm sau xã hội nhân loại sẽ phát minh ra kỹ thuật cao cấp có thể phóng ra hình ảnh giống như chiếc hộp sọ pha lê này. Trong hộp sọ có linh hồn của một người Anh-điêng, người này ở trong một không gian khác đối ứng với hộp sọ có nhiệm vụ bảo vệ cho hộp sọ. Người Anh-điêng này đầu đội mũ lông chim, lưng đeo váy cỏ, mặt và thân thể có các hình xăm màu xanh với hình thù khác nhau, eo bên trái còn đeo một cái túi da động vật, bên trong đựng các loại đồ tế lễ như lục lạc, trùy gỗ, muôi gỗ, tranh vẽ gỗ v.v. Nhìn trang phục có thể thấy đây là một vị đại tế tự người Anh-điêng. Những âm thanh phát ra từ hộp sọ pha lê chính là những bài hát tôn giáo tế tự trong thời cổ đại. Khi tĩnh tâm đứng trước hộp sọ, người ta sẽ bị ước chế bởi năng lượng phóng ra từ hộp sọ. Hộp sọ giống như một cánh cửa bước vào không gian khác, liên kết tầng không gian này với không gian khác, các loại hiện tượng dị thường mà con người nhìn thấy hay ngửi thấy khi đứng bên cạnh hộp sọ đều đến từ không gian khác. Vị đại tế tự này đã tự phong ấn mình vào trong không gian khác đối ứng với hộp sọ để bảo vệ hộp sọ pha lê này, ông ấy đã biến hộp sọ thành vật tải thể để truyền đạt tới thế nhân chính ngộ của người tu luyện đối với tín ngưỡng vào Thần: Nhục thân của con người có thể chết, nhưng chính tín của con người đối với Thần thì vĩnh viễn bất diệt, lưu truyền vạn thế.

Qua hộp sọ pha lê này, tôi đã dùng công năng nhìn được toàn cảnh thời đại mà chiếc hộp sọ được tạo ra. Gần 70.000 năm trước, những người ngoài hành tinh thuộc chòm sao Orion đã đến thăm Trái đất, chúng đặt chân lên mọi vùng đất trên khắp các châu lục. Chúng kinh ngạc khi phát hiện rằng trong đại não con người chứa đựng cả các tín tức về Trái đất, hệ Ngân Hà, vũ trụ. Chúng đã phỏng theo kết cấu tổ chức của đại não người để tạo ra những chiếc hộp sọ pha lê có thể lưu trữ thông tin. Chúng đã làm tổng cộng bảy chiếc hộp sọ. Trong hộp sọ không những lưu trữ quá trình diễn biến của một thời kỳ lịch sử nhất định của các châu lục trên Trái đất cùng sự xuất hiện và biến mất của các sông hồ, đồi núi, động thực vật, chúng cũng lưu ghi lại trạng thái diễn biến sinh tồn của các chủng tộc khác nhau trên các hành tinh khác trong hệ Ngân hà.

Người ngoài hành tinh Orion có mối liên hệ mật thiết và hắc ám với quốc gia Katelan Missi (nghĩa là quốc gia giàu có) phát triển hưng thịnh nhất trên lục địa Trung Mỹ, người ngoài hành tinh Orion cung cấp cho chính phủ Katelan Missi khoa học kỹ thuật về quân sự, còn chính phủ liên bang cung cấp con người và động thực vật trên Trái đất cho người ngoài hành tinh để làm vật thí nghiệm.

Hình thái xã hội Katelan Missi rất đặc biệt, họ theo chế độ nô lệ kỹ thuật cao. Tài sản quốc gia, khoa học kỹ thuật, tài nguyên xã hội và tài nguyên thiên nhiên đều nằm trong tay một số ít các nhà độc tài chính quyền và tập đoàn lợi ích nhóm, quốc gia phân hóa giàu nghèo nghiêm trọng, cuộc sống của người dân thuộc tầng lớp thấp kém vô cùng nghèo khổ. Quốc gia này có hơn bảy triệu nhân khẩu, thuộc nhân chủng người da vàng. Dãy núi Rocky thuộc Canada từng là vùng đất khởi nguyên của chính phủ liên bang. Vào thời kỳ hưng thịnh, diện tích lãnh thổ nước này bao phủ khắp vùng Mexico ngày nay, thủ đô của nước này chính là vùng New Mexico, Mỹ ngày nay. Trang phục của người dân phân thành hai màu đen và trắng, màu đen đại biểu cho tầng lớp bình dân, màu trắng tượng trưng cho tầng lớp quý tộc. Nhờ mượn khoa học kỹ thuật của người ngoài hành tinh, trình độ khoa học kỹ thuật của liên bang Katelan Missi dẫn đầu toàn thế giới, khoa học kỹ thuật cao cấp ngoài hành tinh được ứng dụng trong mọi phương diện xã hội. Phương tiện đi lại của giới quý tộc khi đó là một loại máy bay sử dụng năng lượng ion, có những ưu điểm như có trí tuệ nhân tạo, tốc độ cao, không gây ô nhiễm. Máy bay được làm bằng vật liệu rất nhẹ và bền chắc. Về thông tin liên lạc, họ cũng có một loại máy liên lạc kiểu như điện thoại di động, nhưng có nhiều chức năng hơn so với điện thoại di động của chúng ta ngày nay, khi gọi điện thoại để truyền đạt thông tin, phía trên điện thoại sẽ xuất hiện một hình ảnh lập thể của người gọi đến, cao khoảng 10 cm. Về nông nghiệp, trong không gian hạn hẹp dưới lòng đất, họ dùng những dung dịch dinh dưỡng đậm đặc để trồng các loại cây trồng với mật độ rất dày. Sản lượng cây trồng cao gấp nhiều lần so với trồng trên mặt đất bình thường, ngoài ra họ còn dùng kỹ thuật biến đổi gien để chăn nuôi súc vật, trong môi trường có nhiệt độ nhất định, họ dùng ánh sáng kích thích cho súc vật thụ tinh và thúc đẩy các gien của súc vật phát triển đột biến, từ đó thay đổi kích thước cơ thể của súc vật, tạo nên những súc vật biến dị có hình dạng lớn gấp 3 – 5 lần so với những súc vật bình thường. Nhưng những súc vật biến đổi gien này chỉ dùng làm thức ăn cho nô lệ thuộc tầng lớp thấp kém trong xã hội. Quân đội liên bang Katelan Missi lúc đó cũng khá hùng mạnh, binh lính sử dụng vũ khí năng lượng laser, họ được trang bị quân trang là những bộ áo giáp năng lượng có trí tuệ nhân tạo, khi cần nó có thể tạo thành một cái lồng bằng năng lượng bao phủ toàn thân 360 độ, không có góc chết. Chính phủ quân đội sử dụng những phương thức trừng trị vô cùng tàn nhẫn đối với những kẻ phản loạn trong chủng tộc hoặc những tù binh chiến tranh. Họ cưỡng chế cấy vào đại não của kẻ phản loạn một loại chip, đặt ở vị trí gần thể tùng quả trong đại não, người bị cấy chip sẽ mất hết chủ ý thức, giống như người sống thực vật và chịu sự điều khiển của người khác. Những người này thường bị phái đi làm những công việc trong điều kiện khắc nghiệt nhất hoặc ra chiến trường, làm những việc khó khăn, vất vả và nguy hiểm nhất. Những kẻ độc tài trong chính phủ quân đội coi họ như những đồ phế thải, sinh mệnh của những xác chết biết đi này là yếu nhược, rẻ mạt và hèn mọn nhất trong xã hội thời đó.

Toàn dân liên bang Katelan Missi tín ngưỡng Minh Thần (Thần hắc ám), dùng ngôn ngữ của họ là thờ phụng Thái Tử Thần. Họ coi các tôn giáo khác là dị đoan, tiến hành chính sách diệt chủng đối với những người theo tôn giáo khác. Được sự hỗ trợ mạnh mẽ bởi kỹ thuật ngoài hành tinh, chính phủ quân đội Katelan Missi nhanh chóng thống nhất lục địa châu Mỹ, mấy chục quốc gia phải hàng phục họ. Nhưng chính phủ quân đội vẫn chưa thỏa mãn, họ thực hiện chính sách mở rộng quân sự hòng mưu đồ thống lĩnh toàn thế giới. Họ đã gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của liên quân Âu Á. Liên bang chính phủ khi mở rộng quân sự cũng có chút kiêng dè với liên quân, để phòng kẻ địch đánh vào, các công trình xây dựng ở liên bang Katelan Missi thường thấp bé, chỉ cao khoảng hai tầng, 90% các công trình đều ở dưới lòng đất. Dưới mặt đất là quốc gia rộng lớn, phồn vinh, nhưng trên mặt đất phần lớn bị che phủ bởi rừng rậm, thảo nguyên và hoang mạc.

Người phụ trách các công trình nghiên cứu khoa học quân sự của chính phủ – tướng Cane Corso trong khi hợp tác với người ngoài hành tinh đã phát hiện ra âm mưu và mục đích lớn hơn của chúng. Chúng muốn thao túng và lợi dụng chính phủ liên bang, cuối cùng sẽ thay thế chính phủ để trở thành chủ nhân của Trái đất. Ông ý thức được tính nghiêm trọng của sự việc, lo lắng rằng người Trái đất sẽ có ngày bị người ngoài hành tinh tuyệt diệt. Cane Corso bí mật phỏng theo hộp sọ pha lê mà người ngoài hành tinh chế tạo để làm tổng cộng bảy chiếc hộp sọ pha lê. Ông dùng kỹ thuật ion lưu trữ vào trong những hộp sọ toàn bộ thông tin về những tổn hại mà người ngoài hành tinh gây ra cho người Trái đất cùng những điểm yếu của người ngoài hành tinh. Tôi nhìn thấy một hiện tượng thú vị, đó là người ngoài hành tinh Orion hoàn toàn không miễn dịch với các loại virut mà người Trái đất cho là rất bình thường như virut cảm cúm, nếu chúng bị nhiễm virut, đầu tiên sẽ sốt cao không dứt, tiếp đó toàn thân nổi phát ban, sau 3-15 ngày, nội tạng sẽ suy kiệt mà chết. Không phải tất cả người ngoài hành tinh đều như vậy, đặc điểm của sinh vật ở các tinh cầu khác nhau quyết định khả năng thích ứng của họ đối với các tinh cầu khác nhau trong hệ Ngân hà. Cane Corso cất giấu những chiếc hộp sọ pha lê lưu giữ vận mệnh tương lai của Trái đất này vào một mật thất trong đền thờ Thần, nó được các trưởng giáo bảo tồn và truyền thừa hết đời này đến đời khác.

Chính quyền Katelan Missi trải qua bảy thời đại, tồn tại suốt 180 năm, cuối cùng bị liên quân Á Âu tiêu diệt. Nhưng những hộp sọ pha lê thì không hề bị hủy diệt cùng với quốc gia, chúng đã được lưu truyền đến ngày nay một cách thần kỳ, một số hộp sọ đã có thể được mọi người biết đến. Thời đó, người ngoài hành tinh đã chế tạo tổng cộng bảy hộp sọ pha lê, khi rời khỏi Trái đất, chúng đã mang theo hai chiếc, năm chiếc khác được hữu ý để lại cho nhân loại trên Trái đất, trong đó triển hiện hết thảy thể hệ văn hóa, văn minh của người ngoài hành tinh, bao gồm cả nhận thức đối với vật chất, sinh mệnh và vũ trụ cùng phương thức sinh tồn và khoa học kỹ thuật của người ngoài hành tinh. Sau khi chính phủ liên bang sụp đổ, có chiếc hộp sọ bị nước thắng trận cướp về nước dùng làm tác phẩm nghệ thuật quý giá, có chiếc bị thương nhân giàu có cất giữ, có chiếc bị hủy hoại bởi thiên tai, có chiếc bị đem chôn trong hầm mộ cùng người chết.

Trong viện bảo tàng Anh quốc còn lưu giữ một chiếc hộp sọ pha lê, từ khi đưa ra triển lãm năm 1898 đến nay, các nhà khảo cổ các nơi trên thế giới tấp nập đến kiểm tra, khảo sát, các chuyên gia đoán rằng chiếc hộp sọ này là kiệt tác từ thời kỳ thực dân ở châu Mỹ La Tinh. Nhưng sự thực có phải như vậy không? Trong cảnh giới tu luyện của tôi triển hiện, 300.000 năm trước trong vùng núi sâu thuộc dãy núi Andes ở Trung Mỹ, có một số người tu hành Mật giáo độc tu, trong đó có một người đã tu luyện mấy trăm năm khổ tu, sống tách biệt trên đỉnh núi cao giá lạnh, ông đã mất 30 năm tự tay điêu khắc nên chiếc hộp sọ pha lê này, ông vận dụng pháp lý mà mình đã chứng ngộ trong tu luyện, dùng công năng mạnh mẽ đẩy linh hồn một người tu luyện khác vào trong hộp sọ, mong muốn hộp sọ có thể lưu truyền hậu thế, để cho tương lai người có duyên thấy được người tu luyện trong hộp sọ mà được khai thị.

Đại lục châu Mỹ lúc đó ở vào thời kỳ thống trị cuối cùng của đế quốc Maya, môi trường xã hội hủ bại, đạo đức con người suy đồi, tín phụng tà giáo, trong tôn giáo cũng xuất hiện những hiện tượng hỗn loạn như sát sinh cúng tế. Dân chúng cười nhạo, chửi rủa, coi thường những người tín ngưỡng chính giáo. Người tu hành tu luyện mấy trăm năm trên dãy núi Andes nhìn thấy cảnh này cũng lực bất tòng tâm, vì hết thảy mọi thứ thế gian đều có định số, người tu luyện chỉ có thể hành sự theo thiên tượng.

Một hôm khi chia sẻ với một người tu luyện trung niên, ông thấy người tu luyện này sắp sửa qua đời mà vẫn không cao hơn người thường, chưa tu xuất khỏi tam giới. Qua lại nhiều ngày, người trung niên đến trước lúc lâm chung đã thỉnh cầu người tu luyện ở cảnh giới cao kia phong ấn linh hồn ông trong chiếc hộp sọ pha lê này, trở thành hộ pháp cho pháp khí này, hi vọng linh hồn của mình sẽ vĩnh viễn ở trên thế gian cùng với chiếc hộp sọ pha lê. Vị tu luyện ở cảnh giới cao kia nói: “Con người thế gian vì tham lam dục vọng và chấp trước kéo dài, khiến hào quang của Thần dần dần tan biến, nhưng chính tín của con người đối với Thần thì vĩnh viễn bất diệt. Thời gian sẽ chứng minh rằng hào quang của Thần trong tương lai sẽ trở lại thế gian, gột rửa hết thảy dơ bẩn, lúc đó chúng ta sẽ lại được nhìn thấy”. Người trung niên nằm tĩnh lặng trên giường, khuôn mặt nở nụ cười bình thản… Trải qua hàng vạn năm, linh hồn của người tu luyện trung niên vẫn luôn bảo hộ cho chiếc hộp sọ pha lê này, truyền tải cho thế nhân tín ngưỡng vào Thần, khơi dậy Phật tính của con người.

Tại viện bảo tàng Pari của Pháp cũng trưng bày một chiếc hộp sọ pha lê, tôi dùng công năng nhìn thấy chiếc hộp sọ này được tạo ra vào 3000 năm trước trong thời kỳ văn minh lần này của nhân loại, lúc đó tộc người Anh-điêng phân bố chủ yếu ở lục địa Bắc Mỹ, họ sống cuộc sống du mục dựa theo các mùa và vị trí đồng cỏ, nguồn nước, phần lớn thời gian các bộ tộc đều sống yên ổn với nhau. Nhưng trong rất nhiều bộ lạc có một bộ tộc người Anh-điêng hùng mạnh tên là Sơn Ưng, tộc trưởng Hắc Ưng rất thiện chiến và khát máu. Ông ta thường mang quân đến đánh chiếm các bộ lạc nhỏ hơn, hoan hỷ giết hết những nam giới trong các bộ lạc bại trận. Tộc trưởng Hắc Ưng cả đời đã giết chết vô số người, nên rất nhiều oan hồn đến đòi nợ nghiệp, bộ lạc Sơn Ưng cũng vì thế mà thường xuyên có người mắc các loại bệnh kỳ quái không trị nổi mà chết, không những vậy trong bộ tộc thường xuyên xuất hiện những hiện tượng đáng sợ dị thường. Tộc trưởng Hắc Ưng biết được nguyên do vô cùng sợ hãi, ông thỉnh mời thầy phù phủy có pháp lực cao nhất trong bộ lạc Sơn Ưng đến. Sau khi khắc xong chiếc hộp sọ pha lê này trong nhiều năm, thầy phù thủy đã dùng phép thuật nhốt những vong hồn đến đòi nợ vào trong không gian đối ứng với chiếc hộp sọ này. Trường năng lượng mà chiếc hộp sọ này mang theo khiến con người cảm thấy đau đầu, chóng mặt, đó là vì bên trong đó phóng ra nỗi oán hận của rất nhiều vong hồn.

Nhiều hộp sọ pha lê được chế tạo từ thời tiền sử đã trải qua những thăng trầm trong lịch sử, những vương triều nối tiếp nhau, có chiếc được lưu truyền trong tôn giáo, có chiếc được người ta lưu giữ, có chiếc bị chìm dưới đáy biển, có chiếc bị chôn xuống đất theo người chết.

Rất nhiều hộp sọ pha lê được lưu lại qua các thời đại trong nền văn minh nhân loại, nhưng phần lớn chỉ là các tác phẩm nghệ thuật mà thôi, đến nay chỉ có thể tìm thấy 13 chiếc hộp sọ có mang nội hàm và nhân tố lịch sử thâm sâu.

Hộp sọ pha lê trở thành hiện tượng văn hóa lịch sử trên đại lục châu Mỹ, một câu đố không lời giải, chúng vẫn luôn là đề tài nghiên cứu quan trọng của giới học thuật, giới khoa học và lĩnh vực khảo cổ, đưa đến rất nhiều tranh luận và giả thuyết. Những tri thức mà nhân loại hiện đại nắm giữ chỉ có thể lý giải được một chút ít ỏi những bí mật của lịch sử Trái đất, bí mật của vũ trụ mà thôi. Chỉ có trở thành người tu luyện chân chính tu luyện trong chính Pháp, thì mới có thể nhìn thấu được chân lý vũ trụ triển hiện trong các tầng thứ, bao gồm cả những bí mật về lịch sử Trái đất.

Tại lục địa châu Mỹ cũng có thể tìm thấy di tích của những cung điện và đền thờ được lưu lại từ thời tiền sử, chúng vẫn đứng vững qua những năm tháng gió mưa, triển hiện cho chúng ta thấy sự phồn vinh và huy hoàng của những thời đại lịch sử đã qua.

7. Văn hóa thần truyền – tiên dược bí truyền của Trung y cổ đại

Trong dòng sông dài lịch sử 5000 năm huy hoàng của văn hóa Trung Hoa, văn hóa Thần truyền đã trở thành văn hóa chính thống, được truyền thừa vĩnh cửu trên mảnh đất Thần Châu suốt hàng trăm ngàn năm nay. Hôm nay, tôi sẽ bàn về một số sự việc mà tôi biết được trong cảnh giới tu luyện của mình về Trung y cổ đại – một bộ phận quan trọng cấu thành nên văn hóa Thần truyền.

Trung y cổ đại qua các thời đại đều xuất hiện rất nhiều y học gia có công năng đặc dị và những người tu luyện tại các tầng thứ khác nhau. Họ sử dụng y đức cao thượng, y thuật Thần truyền tinh thâm để hành y cứu người, họ đã viết nên những chương lịch sử truyền kỳ về Trung y cổ đại. Tại các thời kỳ lịch sử khác nhau đều có các thầy thuốc trị bệnh cứu người bằng những phương thuốc thần kỳ bí truyền lưu truyền tại thế gian. Sau đây, tôi sẽ kể về hai phương thuốc được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, các phương thuốc này thật giả ra sao và nhân tố nào đằng sau nó, chúng ta hãy cùng vén màn bí mật này.

Gần đây trong một chương trình truyền hình, một người nổi tiếng ở Trung Quốc đã kể về sự việc mà anh tận mắt nhìn thấy. Khi anh tham gia đội sản xuất ở nông thôn, một thanh niên trí thức bị mọc một cái nhọt lở loét trên đầu, từ cái nhọt chảy ra chất dịch màu vàng có mùi rất khó chịu. Hàng ngày anh phải uống rất nhiều thuốc kháng sinh và còn phải đến bệnh viện để tiêm thuốc penicillin chống viêm, nhưng vẫn không có tiến triển. Sau đó, một người cùng quê đã chỉ cho anh ta một cách, lấy phân lợn mẹ sấy khô trộn với nước thành dạng hồ, đắp vào chỗ mụn nhọt là khỏi. Anh này liền làm theo, ba ngày sau, chỗ mụn nhọt đó đã lên da non, không lâu sau thì khỏi hẳn. Phương pháp này đã được ghi chép trong cuốn ‘Bản thảo cương mục’: “Mọc mụn nhọt 10 năm, dùng phân lợn mẹ sấy khô bôi lên”.

Phương thuốc được ghi chép trong ‘Bản thảo cương mục’ rốt cuộc ra đời vào thời gian nào? Có điều huyền bí nào ẩn giấu sau phương thuốc đó? Trong cảnh giới tu luyện của tôi triển hiện, phương thuốc này được sử dụng từ thời đại nhà Minh, do một vị Địa Tiên đã tu luyện hơn 300 năm trên núi Côn Luân truyền ra, có tên là ‘phương thuốc sẵn có’, nó được lưu truyền trong dân gian như một bài thuốc chuyên trị mụn nhọt, hiệu quả rất tốt, sau này được Lý Thời Trân biên tập chỉnh lý trong ‘Bản thảo cương mục’. Nguyên lý trị liệu của nó thế nào?

Tôi thấy người thanh niên bị bệnh là do chịu sự ảnh hưởng của văn hóa đảng nên bất kính đối với quỷ Thần, nhục mạ Thần linh trước mặt mọi người, bị Sơn Thần dùng một cái cuốc ở âm gian đào một cái lỗ trên đỉnh đầu của anh ta, khiến chân thể anh ta ở không gian khác bị thương. Đối ứng ở không gian này là cái nhọt kia, trường âm tính bao phủ quanh cái nhọt đã chiêu mời rất nhiều sinh mệnh âm tính giống như những con bọ cánh cứng màu đen ở không gian khác, chúng gặm nhấm thân thể tại không gian khác của anh ta, những con bọ cánh cứng màu đen tụ tập thành đàn trong không gian khác, chúng phóng ra năng lượng âm tính màu cam, màu sắc đối ứng với màu cam trong không gian này cũng là màu ở bộ phận bị viêm nhiễm của anh ta. Dùng phân lợn mẹ trị nhọt độc là phương pháp dĩ độc trị độc. Phân lợn mẹ tại không gian khác là một ngọn lửa ở giữa có màu trắng, bên ngoài là màu xanh lam. Sở dĩ dùng nhân tố năng lượng của phân lợn mẹ để tiêu trừ trường năng lượng và trùng độc tại không gian khác ở vị trí tổn thương, là vì nhìn tại vi quan năng lượng của lợn mẹ đều mang hình tượng của lợn mẹ, nhân tố năng lượng của lợn mẹ có tác dụng liên tục tạo ra năng lượng tại vị trí tổn thương, có khả năng liên tục không ngừng thanh trừ âm linh. Phân lợn đực về công dụng chữa trị do thiếu đi tính liên tục này, nên nó chỉ có thể làm giảm nhẹ bệnh tình chứ không thể diệt trừ tận gốc căn bệnh. Lợn nuôi trong chuồng ngày nay được cho ăn thức ăn nhân tạo, thành phần vật chất bên trong đều là nhân tố biến dị phi tự nhiên trong hiện đại hóa công nghiệp, nên đã phá vỡ trường năng lượng trong cơ thể bình thường của lợn, do vậy khi sử dụng làm thuốc, hiệu quả sẽ có thể suy giảm hoặc cải biến.

Tiếp theo tôi sẽ nói về một phương pháp trị liệu xương cốt thời cổ đại từng được lưu truyền rộng rãi nhưng đến nay đã thất truyền – Liễu chi tiếp cốt pháp (phương pháp dùng cành liễu để nối xương). Trong ‘Kim trâm độ thế’ của Phó Thanh Chủ có ghi chép về phương pháp này: Vào thời cổ đại để điều trị xương bị gãy, người ta lấy cành liễu bóc hết vỏ đi rồi nắn thành hình xương, làm thông ở giữa thân cành liễu tạo thành ống xương, sau đó đặt vào giữa phần tiếp giáp hai đầu xương gãy, thay thế cho đoạn xương bị gãy. Trong thời gian cố định hai đầu xương phải bôi lên đó máu gà sống còn nóng, rồi rắc lên đó một loại bột đá xanh (azurit) có khả năng sinh ra cơ thịt tại vị trí bị thương, sau khi khâu vết thương phải bôi lên đó một loại cao có tác dụng nối mạch máu, tiếp đến dùng miếng gỗ cố định lại. Tại sao có thể trực tiếp dùng vật chất trong tự nhiên để ghép vào cơ thể người? Điều này theo lý luận khoa học hiện đại thì khó mà giải thích được, loại phương pháp trị liệu này có thật không? Tôi đã sử dụng công năng để kiểm chứng loại phương pháp trị liệu này, đây là hiện tượng đặc dị siêu thường xuất hiện trong thời đại văn hóa Thần truyền.

Liễu chi tiếp cốt pháp khởi nguyên từ thời kỳ nhà Thương, Chu, những người có thể sử dụng phương pháp này phải là các thầy thuốc có công năng hoặc là người tu luyện đạt đến tầng pháp nhãn thông. Loại phương pháp trị liệu này được biết đến rộng rãi trong chiến tranh vào thời Chiến quốc, các thầy thuốc có công năng đặc dị vận dụng thần thông truyền năng lượng vào cành liễu, biến cành liễu thành vật chất cao năng lượng. Mục đích của việc bôi máu gà sống lên mặt cắt của xương là mượn dương khí của máu gà để lưu thông huyết mạch, sau khi nối xương thành công, trong quá trình hồi phục, người có công năng có thể nhìn thấy tại không gian khác có một đến hai linh thể chỉ cao băng ngón tay mang hình dáng của thầy thuốc (hình tượng linh thể của công), đang ngày đêm liên tục phóng năng lượng cấp cho bệnh nhân, cải biến kết cấu phân tử của cành liễu, cơ thể tại không gian khác được vật chất cao năng lượng hòa thành một thể. Có thầy thuốc sử dụng công năng làm biến mất cành liễu; rất ít người dùng công năng ban vận rút cành liễu ra ngoài khi cơ thể đang trong thời kỳ hình thành xương; phương thức phổ biến là dần dần dung hợp cành liễu vào xương cốt hình thành một chỉnh thể. Đây là hiện tượng đặc dị siêu thường mà người thường không được phép biết đến.

Người tu luyện thời cổ đại khi đã đạt đến một cảnh giới nhất định thì có thể sử dụng công năng để làm biến đổi sự vật ở không gian đối ứng với thân thể trong không gian khác, bởi vì mọi vật ở trong tam giới đều do phân tử cấu thành. Tại cảnh giới tu luyện của tôi, qua thực tế đã được kiểm chứng, tôi có thể sử dụng công hoặc công năng tu luyện trong Đại Pháp để giải thể, trùng tổ, tái tạo vật chất nào đó trong không gian khác thành sự vật hoặc vật chất theo ý muốn.

Hết thảy mọi thứ của khoa học hiện đại không phải do Thần hữu ý an bài cho con người trong thời kỳ văn hóa Thần truyền chính thống, mà là do ảnh hưởng văn hóa của người ngoài hành tinh tạo thành những thứ biến dị và bại hoại. Trong các phương pháp trị liệu của y học cổ đại đều xuất hiện phổ biến những hiện tượng siêu thường trong văn hóa Thần truyền này, con người ngày nay sử dụng các quan niệm biến dị để chữa bệnh dựa theo các phương pháp trị liệu của văn hóa Thần truyền cổ đại, do nội hàm của vật chất đã phát sinh biến dị, không phải là nhân tố của văn hóa Thần truyền nữa, nên hiệu quả trị liệu cũng kém xa so với hiệu quả trị liệu của Trung y thời cổ đại.

Y dược thời cổ đại có những loại thảo dược có thể giúp con người cải tử hoàn sinh. Tôi có thể nêu ra hai loại thảo dược thường được ghi chép trong các sách y học cổ đại và các câu truyện về Thần tiên là nhân sâm và hà thủ ô. Từ xưa đến nay, sự sinh trưởng, đổi thay của vạn vật trong trời đất cũng như sự hưng suy của xã hội nhân loại đều do Thần an bài. Trong lịch sử, con người bắt đầu sử dụng nhân sâm từ 10 triệu năm trước. Tôi đã sử dụng công năng để xem xét vào lúc bắt đầu thời kỳ văn minh lần này, khi Thần Nông nếm thử các loại thảo dược, ông đã nếm thử nhân sâm. Một hôm, ông đang hái thảo dược trên núi thì đào được một cây nhân sâm 300 năm tuổi, Thần Nông phân cây nhân sâm này ra thành hai phần, một phần ăn sống còn một phần nấu chín lên ăn. Thần Nông là người tu luyện đã đạt đến cảnh giới rất cao, trong trạng thái tu luyện, ông đã dùng công năng để ghi chép lại dược tính và công dụng của nhân sâm. Ông phát hiện nhân sâm không chỉ có tác dụng an thần định phách, bồi bổ khí huyết, làm cơ thể khỏe mạnh, mà đối với người mắc trọng bệnh còn có tác dụng cải tử hoàn sinh. Để kiểm nghiệm thêm công dụng trị liệu của nhân sâm, ông đã nấu linh chi và địa hoàng cùng với nhân sâm. Do dược tính quá mạnh, Thần Nông sau khi uống vào đã bị hôn mê ba ngày. Sau khi tỉnh lại, ông cảm giác được thể lực sung mãn, tinh thần phấn chấn, da dẻ cũng trở nên mịn màng hơn, giống như quay trở lại thời thanh xuân vậy. Trong quá trình làm nghề y, ông đã gặp trường hợp một đứa trẻ bảy tuổi bị ngất dẫn đến tử vong. Trước tiên, ông thi triển pháp thuật triệu hồi hồn phách của đứa trẻ trở lại nhục thân, sau đó dùng nhân sâm 300 năm tuổi sắc thành thuốc cho uống, giúp cho đứa trẻ yếu ớt nhanh chóng được bổ sung khí huyết, sau một thời gian ngắn sức khỏe đứa trẻ khôi phục trở lại bình thường. Loại phương pháp trị liệu này vẫn được ghi chép trong các sách y học và được lưu truyền cho đến ngày nay.

Nhân sâm mọc trong tự nhiên tùy theo số năm sinh trưởng mà có công dụng và dược tính khác nhau. Trong cảnh giới tu luyện của tôi triển hiện: Nhân sâm sinh trưởng 50 năm trong tự nhiên tại không gian khác phát ra ánh sáng màu hồng nhạt, có tác dụng bồi bổ khí huyết. Nhân sâm sinh trưởng 100 năm trong tự nhiên tại không gian khác phát ra ánh sáng màu xanh trắng, có tác dụng bổ não. Nhân sâm 200 năm tuổi trở lên, tại không gian khác nhìn thấy là ánh sáng màu xanh nhạt, có tác dụng bổ sung nguyên khí. Nhân sâm 500 năm tuổi trở lên tại không gian khác tỏa ra ánh sánh màu vàng nhạt, có tác dụng khiến nội tạng của con người biến thành vật chất cao năng lượng. Nhân sâm tự nhiên trong quá trình sinh trưởng có thể hấp thụ khí tinh hoa trong phạm vi 30 km dưới lòng đất. Do cơ chế sinh trưởng đặc thù này mà nhân sâm có thể hấp thụ tinh hoa của nhật nguyệt. Linh thể nhân sâm khi sinh trưởng khoảng 700 năm có thể biến hóa thành các loài thực vật. Vào thời cổ đại, linh thể nhân sâm trên 1000 năm có thể biến thành hình người. Ngày nay, nhân sâm do con người trồng thường thì sau khoảng 5 năm đã được thu hoạch mang ra thị trường bán.  Loại sâm nuôi trồng công nghiệp này tại không gian khác có màu tro, chỉ có tác dụng bổ tì vị. Tôi dùng công năng thấy rằng trong nền văn minh nhân loại lần này từng xuất hiện nhân sâm trên vạn năm tuổi, vào thời kỳ nhà Thương, trên núi Thiểu Thất Sơn thuộc vùng Thái Thất Sơn nay là tỉnh Hà Nam, Trung Quốc có một cây nhân sâm vạn năm tuổi, cây nhân sâm dài khoảng một thước (khoảng 0,33m), một thân có ba nhánh rễ, nặng hơn 7 cân (3,5kg). Cây nhân sâm này đã bị một người tu luyện đại đạo Hồng Hắc Thái Cực tu đến cảnh giới cực cao đào lên để luyện thành đan dược, chuyện này đã làm kinh động đến chúng Thần trên Thiên đình trong tam giới. Bởi vì cảnh giới tu luyện của người này quá cao nên chúng Thần trong tam giới không cách nào can thiệp được. Đan dược được luyện chế ra từ nhân sâm vạn năm có tác dụng bổ trợ tu luyện, giúp Đạo nhân tu luyện được 1200 năm, tầng thứ tu luyện vượt rất xa cảnh giới Như Lai. Đan dược mà Đạo nhân luyện chế ra nếu người thường uống một viên có thể kéo dài tuổi thọ thêm ba kỷ (một kỷ là 12 năm). Ngày nay tại Trung Quốc, có 30 cây nhân sâm sinh trưởng trên 500 năm, còn có 3 cây nhân sâm trên 1000 năm, chúng đều được các Tiên nhân tu đạo trong núi và các thiên binh trên Thiên đình trông coi, không cho con người nhìn thấy.

Vào thời cổ đại, các linh vật trên 1000 năm tuổi như nhân sâm nghìn năm, hà thu ô nghìn năm, phục linh nghìn năm đều được ghi chép lại trong sổ sách của Thiên giới, có thiên binh thiên tào chuyên trông coi, bảo vệ. Chỉ khi được sự cho phép của Thiên đình thì những Tiên nhân sắp tu thành Đạo ở thế gian mới được phép sử dụng để trợ giúp thành Tiên.

Tiếp theo tôi sẽ nói về hà thủ ô. Trong cảnh giới tu luyện của tôi triển hiện, tại Trung Quốc đại lục hiện nay có ba cây hà thủ ô trên 1000 năm tuổi, còn có năm cây gần được 1000 năm tuổi. Linh thể hà thủ ô nghìn năm đắc được tinh hoa của trời đất, hình dáng giống con người, toàn thân đen nhánh, trên đầu có cành cỏ mọc lơ thơ, hai mắt linh thể phóng ra hai luồng ánh sáng trắng sáng rực, long lanh đầy thần thái. Ba cây hà thủ ô nghìn năm này bị Tiên nhân dùng pháp thuật che giấu đi, cho dù ngay trước mặt thì mắt thịt của người thường cũng không thể nhận ra được.

Vào những năm Gia Tĩnh triều Minh, đời đó tôi là một người tu đạo đã tu luyện được gần 50 năm và đã đạt trạng thái tiệm ngộ. Khi đi vân du đến vùng Đại Vi Sơn ở Hồ Nam, nhìn thấy dưới chân núi Đại Vi sơn có một cột khí màu tím nhạt cao gần 10m phóng lên từ một đám đất. Tôi chạy lại xem, phát hiện ra đó là một cây hà thủ ô nghìn năm tuổi đang thu nạp linh khí của trời đất. Thấy tôi đến gần, cây hà thu ô thu công hóa thành hình người cao một thước. Nó song thủ hợp thập hành lễ trước mặt tôi. Tôi hỏi nó: “Ngươi tu luyện trên núi này đã bao nhiêu năm rồi?” Cây hà thủ ô đáp: “Tôi đời trước tích đức hành thiện, đời này cảm thụ linh khí của trời đất, đã tu hành trên núi này 1010 năm rồi”. Tôi lại hỏi: “Sau khi đắc linh khí của trời đất, ngươi có từng làm việc hành thiện hay thay trời hành đạo không?”. Nó trả lời:  “Làm việc thiện nhỏ thì không nói, 300 năm trước tôi đã từng xuống núi diệt trừ một con ba ba nước 200 tuổi gây họa loạn cho dân làng. Tôi phế bỏ công lực của nó, bắt nó hiện nguyên hình”. Tôi đơn thủ lập chưởng nói: “Thiện tai, chúc ngươi sớm ngày thành đạo”, sau đó quay đầu rời đi…

Trung y cổ đại là một bộ phận của văn hóa Thần truyền, trải qua nỗ lực tìm hiểu của rất nhiều người đi trước, nó đã để lại những tiếng vang muôn đời, tạo nên những giai thoại truyền kỳ. Những câu chuyện siêu thường mà tôi kể hôm nay cũng chỉ là góp một phần nhỏ bé để làm phong phú thêm cho kho tàng những giai thoại về Trung y cổ đại mà thôi, những bí ẩn và huyền cơ đằng sau đó, nếu có dịp chúng ta sẽ cùng bàn tiếp.

8. Văn hóa thần truyền – truyền thuyết long tộc

Rồng là loài Thần thú trong các thần thoại và truyền thuyết cổ đại của Trung Quốc và vùng Đông Nam Á, rồng tượng trưng cho điềm lành. Văn hóa về rồng cũng là một trong những nét văn hóa truyền thống tiêu biểu nhất của các dân tộc vùng Đông Nam Á và Trung Hoa, là một bộ phận cấu thành của văn hóa thần truyền, nó đã được truyền thừa hàng trăm nghìn năm nay trên vùng đất Thần Châu. Vậy thì loài Thần thú này là do con người tưởng tượng ra hay có thật? Từ xưa đến nay, trong sử sách các thời đại khác nhau và trong dân gian đều có những ghi chép về sự xuất hiện của rồng, thực thực giả giả, vàng thau lẫn lộn, hôm nay đứng tại giác độ người tu luyện, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về tính chân thực của sự việc này.

Trong rất nhiều sự kiện liên quan đến rồng thì sự kiện “rồng rơi ở Doanh Khẩu” xảy ra vào thời cận đại chắc chắn là sự kiện đáng chú ý nhất. Mùa hè năm 1934, vùng Doanh Khẩu, Trung Quốc liên tục mưa lớn trong hơn 40 ngày, nước sông Liêu tăng vọt, khiến cho bờ phía bắc sông Liêu biến thành một biển nước. Cá tôm chết nổi trên mặt nước, không khí bốc lên một mùi hôi thối khó chịu. Sau khi mưa lớn hết, người ta đã phát hiện ra một bộ xương rồng lớn tại bãi cỏ lau cách cửa sông Liêu 10km, tin tức về sự kiện “rồng rơi chết” này nhanh chóng lan truyền khắp toàn quốc, những người hiếu kỳ tại ba tỉnh đông bắc Trung Quốc nô nức bắt tầu hỏa đến Doanh Khẩu để được tận mắt quan sát bộ xương của rồng. Lúc đó “Thời báo Thịnh Kinh” là tờ báo đầu tiên cử phóng viên đến tận nơi tìm hiểu. Ngày 12/8/1934, trong ấn bản đặc biệt của “Thời báo Thịnh Kinh” đã đăng bài viết kèm theo hình ảnh chụp bộ xương rồng, bài báo miêu tả như sau: “Con động vật này không những có hai sừng dài trên đầu, mà còn có bốn chân dài với móng vuốt ở bụng, tại vị trí nó mắc cạn còn có một cái hố dài khoảng 17-18m, trên miệng hố còn hằn rõ móng vuốt của nó”. Bộ xương rồng sau đó bị chế thành tiêu bản, đặt ở viện bảo tàng của Trường cao cấp thủy sản trung học Doanh Khẩu, lúc đó là thời kỳ Nhật Bản thống trị Trung Quốc, người Nhật sau khi biết tin đã chuyển bộ xương rồng đến Trường Xuân, sau đó chuyển về Nhật Bản. Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, các nhà khảo cổ học, nhà văn hóa và các nhà khoa học đã đưa ra rất nhiều phán đoán và giả thuyết khác nhau về tính chân thực của sự kiện “rồng rơi ở Doanh Khẩu”, đến nay vẫn chưa có kết luận chính xác.

Đứng tại góc độ người tu luyện để xem xét sự kiện này, tôi thấy được rất nhiều chân tướng ở phía sau mà con người không được biết. Trong cảnh giới tu luyện của tôi triển hiện: sự kiện “rồng rơi ở Doanh Khẩu” thực sự có thật, con rồng chết không rõ nguyên nhân này vốn là con trai thứ năm của Bột Hải Long Vương, phụng lệnh trấn thủ và hoàng lăng (lăng mộ của vua) nơi chôn giữ thân thể của hoàng đế Lý Trị triều Đường và lăng mộ nơi chôn quần áo và di vật của Võ Tắc Thiên. Con rồng này dài 20m, thân màu đen xám, mắt có màu nâu thẫm. Hoàng lăng vốn là nơi có âm khí rất mạnh nhưng lại xảy ra hiện tượng chỉ có khí dương mà không có khí âm, khiến cho nơi đây âm dương mất cân bằng, thời gian và không gian bên trong bị hỗn loạn lâu dài, khiến cho chân long trong khi trấn thủ hoàng lăng, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng này mà trở nên bứt rứt không yên, ma tính bộc phát. Nó nhiều lần vi phạm lệnh trời, tự ý rời khỏi vị trí, làm mưa làm gió tại vùng sông Vị Hà, gây hại cho dân chúng. Con ác long này đã dùng phép thuật làm vỡ đê dẫn đến lũ lụt, dân chúng hai bên bờ bị cuốn vào lòng sông trở thành thức ăn cho nó. Hơn 80 người dân đáng thương đã rơi vào miệng con ác long này. Hơn nữa, nó còn không ngừng sát hại những sinh vật có linh tính của thủy tộc, hấp thu năng lượng của chúng để gia tăng pháp lực, khống chế những người tu đạo có tâm địa bất chính thường sát sinh cúng tế cho nó.

Con ác long làm nhiều chuyện ác khiến trời cao nổi giận, Thiên Đế đã phái thiên binh thiên tướng xuống bắt nó nhốt vào thiên lao. Thế nhưng con ác long này quỷ kế đa đoan đã trốn khỏi thiên lao. Sau đó nó đến đảo Bồng Lai, dùng phép tàng hình đi vào một không gian khác tương ứng với đảo Bồng Lai, sau đó lại dùng pháp thuật tìm vị trí của lò luyện đan, lẻn vào phòng luyện đan của Thái Bạch Kim Tinh định trộm Bế Thủy kim đan. Loại đan này có thể giúp cho các sinh mệnh thủy tộc sống trên cạn thời gian dài mà không bị suy giảm pháp lực, vẫn có thể vận dụng thần thông bình thường. Con ác long đang định lấy cắp tiên đan thì bỗng nhiên Thái Bạch Kim Tinh xuất hiện trong phòng, con ác long kinh ngạc, lui lại vài bước, sợ hãi đứng nguyên tại chỗ. Thái Bạch Kim Tinh tay cầm phất trần, chỉ vào nó quát: “Đây là cấm địa luyện đan, không cho phép người khác ra vào, tội này thật đáng chém! Đã là rồng, phải biết phép tắc của trời đất, làm việc trái ý trời như vậy, đáng bị trời phạt, nể ngươi là rồng, ta tha người một con đường sống, đi mau đi”. Ác long hung dữ nói: “Ông chẳng qua chỉ là một người phàm tu luyện thành tiên, có tài đức gì mà tha mạng cho ta. Đợi đến khi ta lấy được tiên đan rồi sẽ đến lấy mạng ông”. Vừa dứt lời, Thái Bạch Kim Tinh liền làm phép đấu với ác long, đảo Bồng Lai lập tức mây đen cuồn cuộn, gió nổi ầm ầm. Sau một hồi chiến đấu, Thái Bạch Kim Tinh nghĩ rằng sinh mệnh của long tộc không thể tùy ý xử trí, phải giao lại cho thiên thượng quyết định. Thế nên dùng phép định thân trói ác long lại, trở về thiên giới xin ý chỉ định đoạt, Thiên Đế ở Dục Giới Thiên ban ông cho Đồ Long kiếm, hạ chỉ trảm ác long để giữ thiên cương (kỷ cương của trời).

Thái Bạch Kim Tinh có trong tay kiếm Đồ Long, lẽ ra có thể chém chết con ác long này, nhưng ông lại khởi tâm từ bi hy vọng nó có thể cải tà quy chính nên chưa lấy mạng nó, chỉ chém nó bị thương. Ác long bị thương chạy trốn, muốn quay về Bột Hải Long Cung, nhưng ác long tội lỗi tày trời đã làm trái với quy tắc của long tộc, trái với quy tắc của thần tiên, Bột Hải Long Vương từ lâu đã gạch tên nó ra khỏi gia phả của long tộc và cắt đứt mọi quan hệ. Ác long có nhà nhưng không thể về, không chốn dung thân, lại còn bị trọng thương, không bay được bao lâu thì sức cùng lực kiệt, rơi xuống vùng Doanh Khẩu. Tại bãi lau cách cửa sông Liêu 10 km, rất nhiều người dân địa phương đã tận mắt nhìn thấy con rồng này. Ác long nghỉ ngơi vài ngày, dần dần khỏe lại, pháp lực cũng phục hồi. Thế nhưng bản tính gian ác của nó vẫn vậy, chẳng những không hối cải mà còn muốn tìm Thái Bạch Kim Tinh báo thù. Con ác long đến đảo Bồng Lai lần nữa, Thái Bạch Kim Tinh biết nó sẽ đến nên đã đợi nó từ lâu, giao chiến với nó một lần nữa, Thái Bạch Kim Tinh vung kiếm Đồ Long chém vào cổ của nó, làm phép lấy long đan ra, ác long lập tức mất hết pháp lực, Thần Hộ pháp liền thu lấy hồn phách của nó, đưa xuống mười tám tầng địa ngục chịu hình phạt, đến nay vẫn còn bị giam giữ ở đó. Còn thân thể nó lại một lần nữa rơi xuống Doanh Khẩu. Đương nhiên việc người ta có thể tìm thấy bộ xương rồng có nguyên nhân là: Trời cao muốn nói với thế nhân rằng rồng và Thần thực sự tồn tại, con người cần phải kính trọng trời đất, tu tâm dưỡng tính, tuân theo nhân đạo, thiên lý. Sau này chính phủ Nhật bí mật chuyển bộ xương rồng về Nhật, bộ xương rồng được hoàng thất Nhật Bản cất giữ, bí mật thờ phụng trong chùa, không cho mọi người biết.

Trong cảnh giới tu luyện của tôi triển hiện, long tộc có cảnh giới sinh mệnh cao thấp khác nhau, có thể phân chia thành ba cảnh giới: phàm long, thiên long và Thần long. Phàm long là rồng ở thế giới con người, sinh sống trong các sông, hồ, biển tại vùng đất của người da vàng, đó là vương các loài sinh vật sống dưới nước. Thiên long là rồng trong các tầng trời ở các không gian khác nhau trong tam giới, có nhiệm vụ hộ pháp hoặc làm mưa. Thần long sinh sống trong thế giới thiên quốc ở bên ngoài tam giới của người da vàng, đây cũng là cảnh giới tối cao trong long tộc. Rồng có bảy loại màu sắc là đen, trắng, đỏ, vàng, xanh lục, xanh lam, tím. Màu mắt giống với màu cơ thể, chỉ khác là màu mắt đậm hơn màu cơ thể một chút. Trong long tộc, hải long đực và cái có sự khác nhau về ngoại hình và độ dài thân thể. Thân hình của rồng có thể tùy ý biến lớn thu nhỏ. Hải long đực trưởng thành dài khoảng 70-80m, trên đầu có ba chùm râu dài, mỗi bên mũi có một chùm râu, dưới cằm có một chùm râu nữa. Vây trên lưng rồng nhô ra, rất to và sắc nhọn, vây ở đuôi lại dài và mềm mại, vuốt rồng to và sắc nhọn. Ánh mắt rực sáng, thân trước và sau trông rất oai phong lẫm liệt, có năng lượng cực mạnh chấn nhiếp đối phương.

Hải long cái thân dài khoảng 40-50m, chỉ có hai chùm râu tương đối ngắn ở hai bên mũi. Vây trên lưng nhô ra tạo thành vòng tròn, vây ở đuôi tương đối ngắn hơn, móng vuốt nhỏ hơn, ánh mắt bớt khí phách hơn, ấm áp và dịu dàng hơn. Một phân chi khác của long tộc là giao long, giao long thống trị những vùng nước ngọt như sông, hồ, đầm. Đây là một loài rồng được Thần tạo ra sống trong vùng nước ngọt, có ngoại hình khá giống với hải long, điểm khác biệt là trên đầu giao long chỉ có một chiếc sừng dài và vẩy ngắn hơn. Thân thể giao long có màu nhạt hơn, chỉ có ba loại màu sắc chủ yếu là trắng, xám và xanh lục nhạt. Chiều dài thân thể cũng ngắn hơn so với hải long, giao long đực dài 40-50m, giao long cái dài khoảng 30-40 mét. Hải long và giao long tuy là những loài sống ở các vùng nước khác nhau, nhưng đều có đầy đủ pháp lực thần thông của long tộc, cho nên đều có thể tự do đi lại giữa sông hồ và biển.

Phương thức sinh sản của rồng tại các cảnh giới khác nhau cũng khác nhau, phàm long thì đẻ trứng, mỗi lần đẻ từ 3 đến 5 quả trứng rồng. Phàm long tạo trứng trong khoảng 13 tháng, sau khi đẻ trứng xong cần ấp trứng trong 3 tháng. Thiên long vừa có thể đẻ trứng vừa có thể sinh con, mỗi lần sinh cách nhau trung bình khoảng 300 năm, lúc rồng mẹ sinh con, sẽ sinh ra một con rồng con bên ngoài được bao bọc bởi một lớp màng mỏng tựa như hình trứng, thân thể dài khoảng 150cm rộng 80cm. Rồng trong tam giới do cảnh giới khác nhau nên tuổi thọ cũng khác nhau, thậm chí là rất lớn. Phàm long trong tầng không gian này của chúng ta có tuổi thọ khoảng 1000 năm, Thiên long trong các tầng trời khác nhau trong tam giới thường có tuổi thọ từ 1500 đến 3000 năm, tầng thứ càng cao thì tuổi thọ càng dài. Thần long là rồng trong thế giới thiên quốc, ngoài phương thức sinh đẻ ra còn có thể sử dụng pháp lực thần thông để trực tiếp tạo ra rồng con. Quá trình tạo ra rồng con rất đặc biệt, thần long bố và thần long mẹ từ miệng nhả ra một chùm năng lượng kết hợp lại với nhau, hình thành một quả cầu năng lượng có đường kính khoảng 150cm. Khi năng lượng được gia cường, ở chính giữa quả cầu năng lượng dần dần xuất hiện một hình tượng ấu long, năng lượng tiếp tục được bổ sung, đến thời điểm chín muồi, rồng con sẽ từ trong quả cầu phá lớp màng chui ra ngoài, trở thành một chú rồng sơ sinh hình dáng hoạt bát, đáng yêu giống như trong phim hoạt hình vậy, điều thú vị là trong quá trình thần long bố và thần long mẹ nhả năng lượng, ai nhả ra năng lượng mạnh hơn thì tiểu long sẽ giống người đó hơn. Việc sinh con của long tộc cũng phải căn cứ vào thiên thời và thiên tượng, phải thuận thiên ý thì mới có thể sinh sôi được. Nhiều Thần thú trong thế giới của Thần đều sinh sôi theo cách này. Thời cổ đại có rất nhiều người tu luyện tầng thứ thấp, vì tâm sắc dục chưa bỏ mà không đắc chính quả phải đầu thai chuyển thế, có người tu luyện sẽ chuyển sinh thành rồng trong tam giới. Những người tu luyện chưa bỏ được tâm tật đố phần lớn sẽ chuyển sinh qua súc sinh đạo đầu thai thành rắn hoặc mãng xà. Bởi vì sinh ra không có tay chân nên thường bị các loài côn trùng có độc cắn mà không làm gì được, đó là lý do vì sao rắn có tính cách rất hung dữ. Tu luyện là cực kỳ nghiêm túc, bất cứ tâm chấp trước nào chưa bỏ cũng có thể khiến việc tu luyện lãng phí đổ sông đổ biển.

Rồng có ba nhiệm vụ chủ yếu: một là cai quản, duy trì trật tự dưới biển, sông hồ trong vùng đất của người da vàng, thanh trừ các sinh mệnh gồm cả các loài thủy quái gây họa loạn ảnh hưởng tới trật tự của biển, sông, hồ cùng các âm linh và các sinh mệnh phụ diện trên mặt đất và dưới mặt đất. Hai là phụ trách việc tạo mây làm mưa. Ba là hộ pháp, trấn thủ các hoàng lăng và hộ pháp, bảo vệ cho những người tu đạo trong tam giới. Ngày xuân phân hàng năm là thời điểm rồng bay lên trời, Long Vương và Giao Vương ở tầng thứ khác nhau sẽ bay đến thiên giới ở các tầng trời khác nhau trong tam giới để báo cáo, tổng kết các sự kiện lớn phát sinh trong khu vực họ quản lý và kết quả xử lý trong năm qua, rồi nhận sứ mệnh và nhiệm vụ mới mà thiên thượng giao phó trong năm mới. Còn ngày đông chí hàng năm là ngày mà long tộc sẽ đến các vùng nước sâu để chuẩn bị sinh sản. Năm này qua năm khác lặp lại như vậy.

Văn hóa long tộc vẫn luôn được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác qua các triều đại trong lịch sử văn minh Trung Hoa. Do ảnh hưởng văn hóa của các thiên quốc trong các thiên thể khác nhau tạo nên sự khác biệt rất lớn về năng lực và ngoại hình của rồng. Hình tượng của rồng mặt khác cũng phản ánh sự hưng suy của một triều đại, một quốc gia. Rồng thời Hán bốn chân khá nhỏ, có khi bốn chân rồng còn thu sát vào hai bên thân thể trong trạng thái thu mình, giống như một con rắn lớn, đặc điểm của rồng thời này là “đại đạo vô vi”. Rồng thời Đường bốn chân dài, cứng cáp, mạnh mẽ, miệng rồng mảnh mai, ngoại hình khôi ngô, uy vũ, đặc điểm của rồng thời này là “hùng bá thiên hạ”, từ hình ảnh của rồng có thể thấy được sự huy hoàng, phồn thịnh của thời Đại Đường khiến các nước phải kính nể. Rồng thời Tống có khí thế và hình tượng không oai phong như các triều đại trước, triều Tống tuy kinh tế phát triển nhưng lại bị ngoại tộc đe đọa xâm chiếm, lại xảy ra sự kiện hai cha con hoàng đế Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông bị nước Kim bắt cóc mà vong quốc, đây là sự thất bại hiếm có trong lịch sử. Rồng thời Tống có đặc điểm là “kháng long hối thiên”, các hoàng đế triều Tống đã làm rất nhiều việc trái với thiên ý, cuối cùng dẫn tới đại họa mất nước, dân chúng lầm than. Đặc điểm của rồng triều Minh là “nội liễm tứ phương”, sau khi hoàng đế triều Minh lên ngôi đã lấy của cải của các phú hào địa phương phân chia cho con cháu trong hoàng tộc, triều Minh thực thi các chính sách cưỡng đoạt nô dịch khiến cho bách tính thống khổ, người dân ngày đêm oán than, nạn binh đao nổi lên khắp nơi. Rồng triều Thanh có đặc điểm là “cự chỉ tứ phương”, trong thời kỳ thịnh thế của vua Khang Hy và Càn Long, quân Thanh chinh chiến khắp nơi, đánh đâu thắng đó, vào thời kỳ thịnh vượng nhất, lãnh thổ đất nước Trung Quốc rất rộng lớn, giặc ngoại bang không dám xâm phạm.

Thời cổ đại hoàng đế được gọi là thiên tử (con trời), tại sao lại gọi là Thiên tử? Hoàng quyền thiên thụ (quyền lực của vua là do trời ban), đứa con cưng biết thuận theo ý trời cai trị thiên hạ được gọi là thiên tử. Các bậc quân vương khai quốc của các triều đại, các vị vua chúa trong thời kỳ phục hưng đều là những vị đế vương được trời tuyển chọn, được trời phái tiên nhân và long tộc bảo hộ. Cho nên rất nhiều lăng mộ của các quân vương thời cổ đại đều có tiên nhân và long tộc hộ pháp bên trong để trông coi hoàng lăng. Lăng mộ nổi tiếng của Tần Thủy Hoàng nằm dưới chân núi Ly Sơn là một quần thể kiến trúc cung điện khổng lồ trong lòng đất, toàn bộ khu lăng mộ do hai bộ phận âm và dương tạo thành. Phần trên có năm tầng là dương, được xây dựng giống hình dạng kim tự tháp. Phần dưới có bốn tầng là âm, có kết cấu như hình dạng kim tự tháp ngược, giữa hai bộ phận của địa cung được ngăn cách bằng một lớp bùn đất dày, trong đó có lối đi bí mật thông giữa hai bộ phận. Địa cung nằm trong lòng đất này kéo dài sâu dưới lòng đất 295m, Tần Thủy Hoàng khi còn tại vị đã huy động 720.000 người dân lao dịch nặng nhọc suốt 30 năm mới hoàn thành xong công trình này.

Lăng mộ Tần Thủy Hoàng sở dĩ được đặt tại núi Ly Sơn là vì ở trung tâm của núi Ly Sơn có một cột sáng màu tím thông thẳng đến thiên đình, toàn bộ Ly Sơn được bao phủ bởi ánh sáng màu tím, đây là vùng đất long mạch địa linh nhân kiệt. Hoàng lăng lại tọa lạc ở vị trí long huyệt của núi Ly Sơn (Long huyệt theo khoa học hiện đại giải thích là vùng đất ở vị trí trung tâm của trường năng lượng từ trường). Trong lăng mộ của Tần Thủy Hoàng được đổ vào gần 100 tấn thủy ngân, tượng trưng cho biển, sông, hồ trong lãnh thổ đại Tần ở nhân gian được mô phỏng thu nhỏ với tỉ lệ như thật. Trong cung điện dưới mặt đất còn có 1800 bức tượng người bằng đất nung có kích thức như người thật, những tượng người đất nung này là binh lính triều Tần bị chôn sống cùng Tần Thủy Hoàng, lúc còn sống họ đã được cho uống đan dược đặc chế, trên thân họ có ghi lời chú pháp thuật đối ứng với cảnh giới thấp của Hồng Lam Đại Đạo. Đan dược và lời chú khiến cho vong linh hồn phách họ không tiêu tán và nhục thân của họ không bị hủy hoại. Họ ở trong thế giới cung điện dưới mặt đất với nhục thân bất hoại, làm âm binh trông coi hoàng lăng. Tần Thủy Hoàng khi còn sống đã thỉnh mời các đạo sĩ có pháp thuật sử dụng thuật âm dương ngũ hành, tương sinh tương khắc của Đạo gia để xây dựng hoàng lăng, trong mộ thất có rất nhiều cạm bẫy đan xen lẫn nhau, người thường không cách nào phá giải, nếu tiến vào mộ thất thì không thể sống sót quay ra. Để đề phòng trộm mộ, Tần Thủy Hoàng đã thỉnh mời các đạo sỹ dùng pháp thuật dự đoán các phương thức trộm mộ, từ đó thiết lập các loại cạm bẫy khác nhau để đề phòng. Trong lịch sử, hoàng lăng của Tần Thủy Hoàng đã bảy lần bị những kẻ trộm mộ phá hoại trên diện rộng nhưng kết quả đều thất bại. Hậu quả mà kẻ trộm mộ nhận phải rất thê thảm, có kẻ sau khi chết bị đánh xuống địa ngục; có kẻ bị âm binh trong hoàng lăng bắt hồn phách đi chịu cực hình, toàn thân bị đâm đầy đao kiếm, bị ném xuống sông thủy ngân, ngày đêm không ngừng chịu thống khổ giày vò cùng cực. Kẻ trộm mộ không chỉ tự bản thân chịu tội mà còn mang họa đến cho con cháu, âm phủ có quy định rất rõ ràng rằng những kẻ trộm mộ thì con cháu đời sau sẽ bị cắt giảm tương ứng các loại phúc phận như phúc, lộc, thọ, đời đời kiếp kiếp bị trừng phạt phải mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đoản mệnh. Cái gọi là công tác khảo cổ khai quật lăng mộ, tuy được nhà nước cho phép thăm dò nhưng âm phủ vẫn định tội cho những nhà khảo cổ ngang với tội của những kẻ trộm mộ. Ở trên có đề cập đến lăng mộ chôn quần áo và di vật của Võ Tắc Thiên, vậy thân thể của Võ Tắc Thiên được an táng ở đâu? Thân thể của bà được an táng trong ngôi mộ rất rộng lớn nằm trong núi bắc Mang Sơn ở Lạc Dương. Khi còn sống bà đã chỉ định con cháu của gia tộc Võ Thị tu đạo đời đời bảo vệ hoàng lăng. Trong lịch sử, con cháu gia tộc Võ Thị đã nhiều lần thay tên đổi họ chỉ vì bảo vệ hoàng lăng được vẹn toàn, trải qua vô số kiếp nạn, lăng mộ đến nay vẫn còn nguyên không bị xâm phạm, thi thể của Võ Tắc Thiên vẫn được bảo tồn nguyên vẹn, nét mặt như khi còn sống, thân thể không bị thối rữa.

Một nhiệm vụ khác của long tộc là làm mưa. Khi trời mưa, tôi thường nhìn thấy trong đám mây có Thần mưa điều khiển phối hợp với rồng làm mưa. Hải long phụ trách làm mưa trên mặt đất, còn giao long phụ trách làm mưa ở những khu vực gần các sông, hồ, đầm. Hơn nữa, hình tượng Thần mưa ở phương tây và phương đông có sự khác biệt rất lớn, Thần mưa ở phương tây có hình tượng nhân mã có cánh sau lưng. Văn hóa ở các thiên thể khác nhau sẽ tạo nên hình tượng sinh mệnh khác nhau cũng như các phương thức sinh tồn khác nhau. Nói đến làm mưa, tôi nhớ đến sự kiện hồ Bà Dương ở Trung Quốc bị hạn hán nặng vào năm 2011, hồ Bà Dương bị khô cạn là thiên ý, nguyên nhân là tại phía đông khu vực hồ Bà Dương có một đường thông nối với một xoáy nước ngầm có đường kính đến 400m, bình thường bị che phủ bởi san hô và bùn. Có một con thủy quái hình rắn thân dài 30m, trên thân đầy vảy đen, trên cái đầu có đến mười mấy con mắt, trên đỉnh đầu có rất nhiều gai sắc nhọn, miệng đầy răng nhọn. Thừa lúc giao vương sơ suất, nó đã từ xoáy nước ngầm chạy vào hồ Bà Dương, nó dùng pháp lực khống chế những kẻ ác trong vùng gây nguy hại cho con người, nó đã bức hại đến chết rất nhiều người tu luyện chính pháp (đệ tử Đại Pháp), tội không thể tha, máu của các đệ tử Đại Pháp bị bức hại đến chết thấm xuống đất rồi ngấm vào hệ thống mạch nước ngầm ở hồ Bà Dương.

Nhìn tại không gian khác, toàn bộ khu vực hồ Bà Dương bị máu của đệ tử Đại pháp “nhuộm đỏ”, thủy quái cuối cùng bị chính niệm của đệ tử Đại Pháp tại vùng này bài trừ. Thiên giới đã phái một con thanh long đến trấn thủ tại xoáy nước, phòng trừ lại có tà linh gây họa loạn thế gian. Thiên đình nổi giận vì người tu luyện tại vùng hồ Bà Dương bị bức hại đến chết nên đã giảm mực nước của hồ xuống chỉ còn 1/80 so với mực nước những năm cao nhất. Trấn thủ hồ Bà Dương là một con giao vương đực màu xám, nó biết rằng đại hạn ở hồ Bà Dương là do trời cao cảnh cáo, trách phạt, cần phải thuận theo ý trời, nên không được làm mưa ở khu vực bị khô hạn. Thủy phủ hồ Bà Dương có 3000 binh lính, thủy phủ được giao vương dùng pháp lực che chắn, không cho người thường nhìn thấy, người nào ngẫu nhiên nhìn thấy sẽ bị binh tướng của thủy phủ bắt lấy hồn phách giam giữ tại nhà tù của thủy phủ hoặc phải lao dịch tại thủy phủ vài năm vì tội dò xét thiên cơ, sau đó sẽ bị đưa tới âm phủ xét tội.

Trong thời đại được coi là khoa học kỹ thuật phát triển này, con người cho rằng bản thân mình hiểu biết rất nhiều về lịch sử trái đất, kỳ thực những gì họ biết chỉ là bề mặt nông cạn, rất nhiều chân tướng phía sau các hiện tượng tự nhiên thì khoa học thực chứng không có cách nào lý giải và nhìn thấy được. Tuy nhiên những con người và sự vật huyền bí, kỳ diệu đó lại thực sự tồn tại. Trong bài viết về long tộc này, tôi chỉ đề cập một cách khái quát về những sự thực đó, còn có rất nhiều chi tiết và nguyên do đằng sau về lai lịch của rồng thì do tính đặc thù của giai đoạn lịch sử hiện nay nên tôi không tiện nói ra. Ngày nay tại các đại dương xung quanh Trung Quốc đại lục và vùng Đông Nam Á đều có hải long trấn thủ, tại các sông, hồ, đầm của vùng đất Trung Hoa cũng đều có giao vương thủ hộ.

Lịch sử trái đất vô cùng lâu dài, sinh mệnh vô cùng phức tạp và đa đạng, Thần trước sau vẫn luôn là chủ sáng tạo và cai quản vạn vật trong trời đất.

9. Địa ngục và nhân gian

Rất nhiều tôn giáo và tín ngưỡng phương Đông từ xưa đến nay đều nhắc đến địa ngục, địa ngục thường được cho là nơi sau khi con người chết đi linh hồn phải chịu khổ ải ở đó. Trong một số điển tích của Phật giáo và trong trường ca “Thần khúc” của nhà thơ người Ý Dante đã miêu tả tường tận về địa ngục, vậy địa ngục có thực sự tồn tại đồng thời với thế giới hiện thực của chúng ta hay không? Sau đây, chúng tôi sẽ làm rõ bí mật về địa ngục qua những sự việc và con người chân thực.

Đầu tiên là sự kiện “Liên Xô khoan sâu đến cửa địa ngục” gây chấn động thế giới mấy chục năm trước. Vào những năm 60 của thế kỷ trước, khi Mỹ và Liên Xô đang trong thời kỳ chiến tranh lạnh, hai nước này âm thầm cạnh tranh trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, quân sự vũ trang và thăm dò không gian. Các nhà khoa học Liên Xô đã quyết định sử dụng các phương pháp đơn giản và thô bạo để tìm hiểu Trái đất, họ lên kế hoạch “khoan thăm dò siêu cấp” bằng cách khoan sâu trực tiếp vào trung tâm Trái đất, kế hoạch này có tên là “Kính viễn vọng Trái đất”, với tham vọng khám phá được những bí ẩn tại nơi sâu nhất trong lòng Trái đất. Để thực hiện kế hoạch này, Liên xô đã dốc toàn bộ nguồn lực của đất nước, tổ chức hàng nghìn nhà khoa học sử dụng các máy khoan và thăm dò hạng nặng, bí mật khoan thăm dò tại khu vực bán đảo Kola ở tây bắc Siberia. Họ đã mất khoảng 20 năm để khoan sâu 13.000m theo hướng thẳng đứng xuống lòng đất. Tuy nhiên, công trình to lớn này lại bị chính phủ đột ngột cho dừng lại một cách kỳ lạ vào năm 1994, toàn bộ các nhà khoa học phải rút khỏi hiện trường, toàn bộ máy móc, thiết bị đều bị vứt bỏ lại. Những người trong cuộc tiết lộ rằng trong quá trình khoan thăm dò đã xuất hiện những hiện tượng siêu nhiên, đáng sợ hơn là người ta đã nghe những thấy tiếng gào thét thê thảm của rất nhiều người phát ra từ lỗ khoan, thậm chí có cả ma quỷ bò ra từ lỗ khoan, vì vậy công tác khoan đào đã bị dừng lại. Có người nói rằng mũi khoan đã khoan phải cửa địa ngục, những âm thanh đó được cho là những âm thanh đến từ địa ngục. Sự việc gây xôn xao dư luận lúc bấy giờ đã dần bị lãng quên theo thời gian, mới đó đã qua hơn 20 năm rồi. Rất nhiều sự việc kỳ lạ đã xảy ra cho đến nay vẫn không thể được kiểm chứng, vậy Liên Xô có thực đã khoan đến cửa địa ngục chăng? Xem xét từ giác độ người tu luyện thì câu trả lời là đúng như vậy.

Tôi sử dụng công năng xem xét vào năm đó, lỗ khoan thăm dò ở độ sâu 13.000m của Liên Xô xác thực đã khoan đến cửa địa ngục của phương Tây, đây là địa ngục của thế giới người da trắng phương Tây đối ứng với không gian nhân loại. Trong thế giới u ám dưới lòng đất này giam cầm rất nhiều sinh mệnh phạm trọng tội ở thế giới người da trắng thuộc nhiều hành tinh khác nhau trong phạm vi dải Ngân hà của tầng lạp tử của chúng ta, số lượng lên đến hàng triệu người. Có linh hồn mang hình người, có linh hồn mang hình dạng nửa người nửa thú và các loài động vật, họ bị giam cầm trong một không gian bí mật dưới lòng đất, nơi đó tối tăm, lạnh lẽo, không có đồ ăn thức uống. Nói một cách nghiêm túc thì đây là trạm trung chuyển từ thế giới con người đến địa ngục, diện tích của thế giới dưới lòng đất này rất rộng lớn, tương đương với 2/3 diện tích nước Nga hiện nay. Những tiếng kêu ghê rợn được nhắc đến trong sự kiện năm đó chính là tiếng kêu khóc vô vọng của các tội hồn (linh hồn tội lỗi) bị giam giữ dưới địa ngục, trong hoàn cảnh cực kỳ thống khổ này họ đang cắn xé lẫn nhau, mỗi giây mỗi phút đều chịu đau đớn giày vò, tuy nhiên đây chưa phải là tất cả những gì họ phải chịu đựng. Những quỷ tốt trông coi nơi này đều có pháp lực thần thông của Thần tầng thấp trong địa phủ, chúng có hình dáng giống như những thây ma trong các câu truyện ma quỷ của phương Tây, với con mắt màu trắng xám không có đồng tử bên trong, bộ mặt dữ tợn và đáng sợ, bàn tay khô khốc với các móng tay dài và sắc nhọn, toàn thân trùm áo đen. Ngoài các quỷ tốt trấn thủ tại đây, còn có một loài Thần thú ở địa ngục là chó ngao ba đầu, loài này giống như chó nghiệp vụ của cảnh sát của nhân loại, ước tính bên trong có khoảng 700 đến 800 con, chúng vô cùng hung hãn. Vương của địa ngục của người da trắng là một người tu đạo tu luyện trên dãy núi Alpes. Ông có mối liên hệ mật thiết với giáo hội La Mã, được sự phó thác của giáo hội La Mã, chức trách của ông là xử lý các quái thú và âm linh gây họa loạn tại nhân gian. Thân phận của người tu luyện này được giữ bí mật tuyệt đối trong nội bộ giáo hội La Mã, vương của địa ngục đã tu hành trong người thường được 1000 năm, ông sống trong tầng hầm của một lâu đài cổ ở nước Pháp gần dãy núi Alpes, ông là chủ nhân đầu tiên của tòa lâu đài này. Tòa lâu đài này trải qua lịch sử 1000 năm vẫn kiên cố như thuở ban đầu, ông sử dụng pháp thuật tàng hình để tự do ra vào tòa lâu đài, nên những người hiện đang sống trong tòa lâu đài không hề biết đến sự tồn tại của ông. Như đã đề cập ở trên, có những con ma bò ra khỏi đáy giếng dọc theo mũi khoan, tôi dùng công năng để xem xét thì đúng là có một số âm linh từ trong địa ngục bò lên mặt đất nơi không gian nhân loại, nhưng chúng đều bị vương của địa ngục dùng pháp lực tiêu trừ, bởi vì sinh vật trong địa ngục không được phép can nhiễu đến xã hội người thường. Tôi còn phát hiện nhân viên lái máy khoan siêu cấp là quỷ địa ngục chuyển sinh. Mục đích chuyển sinh của anh ta là hoàn thành ý chỉ của Thần: dùng mũi khoan siêu cấp mở cửa địa ngục, với dụng ý cảnh tỉnh nhân loại lúc bấy giờ rằng địa ngục là có thực, con người nếu không tích đức, hành thiện mà vẫn làm những việc xấu thì sau khi chết sẽ bị đày xuống địa ngục.

Trong cảnh giới tu luyện của tôi triển hiện, các chủng người với màu da khác nhau trên Trái đất có lối vào địa ngục khác nhau đối ứng tại nhân gian, về cơ bản những lối vào địa ngục này đều ở độ sâu từ 8.000m đến 10.000m dưới lòng đất. Như đã đề cập ở phần trên, vị trí bên dưới nước Nga hiện nay là đối ứng với lối vào địa ngục của thế giới người da trắng phương Tây. Phía dưới sa mạc Cát Nhĩ ở Tân Cương là lối vào địa ngục của người Ả Rập, dưới lòng đất ở khu vực đó có hai con sông ngầm, tương lai con người có thể sẽ phát hiện ra hai con sông ngầm này, đây là lý do vì sao giữa biển cát mênh mông lại xuất hiện những ốc đảo. Phía dưới vùng đất ven Địa Trung Hải là lối vào địa ngục của người Ai Cập. Lối vào địa ngục của người da đen ở bên dưới vùng đất Nigeria. Vậy thì lối vào địa ngục của người da vàng nằm ở đâu? Sau đây tôi sẽ tập trung nói về nơi này.

Tôi đã nhìn thấy lối vào địa ngục đối ứng với chủng người da vàng tại núi Thanh Thành, Tứ Xuyên, Trung Quốc ở sâu 8.000m dưới lòng đất. Trên núi Thanh Thành có một hang động bí mật thông thẳng xuống lối vào âm phủ, đây là trạm phân lưu trung chuyển đưa người da vàng đi tới âm gian. Địa ngục này chia làm bảy tầng lớn, với tổng diện tích chiếm đến 1/3 diện tích Trung Quốc hiện nay. Bên trong đó tập trung những sinh mệnh có hình dạng người, động vật và thực vật bị đào thải trong thế giới người da vàng trong phạm vi hệ Ngân hà, các sinh mệnh của các chủng loài khác nhau được phân theo các khu vực và không gian riêng biệt trong bảy tầng này, họ ở trong đó chờ đợi để được phân lưu, chuyển đến các không gian khác nhau. Tầng thứ nhất là đường thông đối ứng với các sinh mệnh hình người, những sinh mệnh đến tầng này là những người lúc sống không làm điều đại thiện cũng không làm điều đại ác, họ sẽ đi vào đường thông trung gian này để đến thẳng âm gian (thấp hơn không gian nơi chúng ta sống một tầng) trở thành âm quỷ. Những người khi còn sống làm nhiều việc đại thiện thì khi đến âm gian được sống ở nơi có điều kiện tốt hơn. Còn một loại sinh mệnh khi sống tín phụng tà giáo, phá hoại đạo đức nhân loại, gây họa loạn nhân thế, làm nhiều điều ác, hãm hại người khác, họ sẽ phải chịu cực hình khi xuống địa ngục. Cuối cùng là một loại sinh mệnh xúc phạm thiên pháp, không làm tam thoái (thoái đảng, thoái đoàn, thoái đội) và loại người bức hại các đệ tử chính Pháp và người tu luyện chính Pháp sẽ bị phân tách dẫn vào một đường thông đạo đen tối nhất, tại cửa đường thông đạo có hai quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa đứng ở hai bên, họ cao khoảng 2,2m, uy phong lẫm liệt, sát khí đằng đằng khiến người ta kinh hãi, ánh mắt hung ác nhìn từng tội hồn đi qua bên họ. Sâu trong bóng tối âm u vọng lại từng hồi âm thanh gào thét của những phạm nhân đang chịu tội hình, tiếng kêu thật khủng khiếp. Ở đây có 10 quỷ sứ hình dạng xấu xí, tay cầm sổ “điểm danh” từng phạm nhân rồi đưa đi. Ai bị gọi đến tên sẽ bị mang tới một nơi giống như nha môn có kiến trúc theo phong cách thời Minh Thanh, trong đó có 18 gian phòng lớn màu đỏ, là nơi thẩm tra phạm nhân. Trước cửa có âm sai đầu đội mũ đen mặc quan phục màu đỏ có nhiệm vụ tổ chức cho âm quỷ xếp thành hàng, âm quỷ bị điểm đến tên sẽ bị mang đến thẩm tra đường, phán quan của thẩm tra đường sẽ tra xét sổ công tội khi sống của mỗi âm quỷ, tính toán công và tội căn cứ trên việc hành thiện tích ác để định tội danh. Có trường hợp sổ công tội trong tay quỷ sai, từ trang đầu tiên đến trang cuối cùng đều được đóng lên con dấu màu đỏ, trên đó khắc hai chữ “tử tù”, loại phạm nhân này tội không thể tha. Những người bị thẩm tra công tội tại thẩm tra đường, có người khóc lóc vì những việc ác mà họ đã làm khi sống; có người cau mày, vắt óc suy nghĩ tìm cách thoát tội; có người ánh mắt hung ác không ăn năn hối cải, mỗi người một vẻ, thật là một cảnh thê thảm, bi thương. Phán quan mặc quan phục cổ đại đang thẩm tra những tội phạm mặc trang phục hiện đại, cảnh tượng này quả là tương phản và là cú sốc lớn đối với những kẻ phạm tội mà khi còn sống vẫn ủng hộ thuyết vô Thần, những điều về Thần linh và nhân quả báo ứng mà khi sống họ không tin tưởng vào thời khắc này đều hiển hiện ngay trước mắt.

Trong xã hội hiện nay, cùng với sự trượt dốc của đạo đức nhân loại, rất nhiều người vì lợi ích, vì tiền mà không điều ác nào không làm để thỏa mãn dục vọng. Đến nay, các loại cực hình tương ứng dưới địa ngục cũng tăng gấp nhiều lần lên tới 1800 loại, các loại cực hình này được phân đều cho các tầng không gian trong 18 tầng địa ngục. Rất nhiều loại cực hình còn chưa từng được biết đến, ví dụ những kẻ ác khi sống phỉ báng Phật Pháp, đánh đập, chửi rủa, giết hại các đệ tử Đại Pháp thì sẽ phải nhận hình phạt bị quỷ sứ địa ngục mang đến đỉnh núi dốc đứng, trên núi chằng chịt những lưỡi đao vô cùng sắc nhọn, tội hồn bị quỷ sứ đẩy từ đỉnh núi xuống chân núi. Thân thể trong quá trình lăn xuống sẽ bị những lưỡi đao sắc nhọn liên tục đâm vào, khiến thân thể trong nháy mắt bị đâm tan nát, đau thấu xương cốt. Loại cực hình này mỗi thời mỗi khắc đều lặp lại, ngày này qua ngày khác không có kết thúc. Còn có một loại cực hình cho những kẻ ác khi còn sống đã ngược đãi tàn khốc thân thể đệ tử Đại Pháp, sau khi chết xuống địa ngục sẽ bị quỷ sứ đầu lợn mình người lột da rút gân, sau đó đem thân thể bầy nhầy máu thịt treo lên nướng trên lửa địa ngục, cho đến khi mỗi mẩu thịt đều bị nướng cháy, tội hồn phải chịu hình phạt trong khi ý thức thanh tỉnh, khiến cho nỗi đau bị lột da rút gân còn lớn gấp mười lần so với cơn đau trong người thường, tội hồn trong quá trình thụ hình sẽ không bị hôn mê mà chết, và nỗi đau kịch liệt cứ liên tục không ngừng. Những tiếng khóc bi ai xuyên thấu tâm can vang vọng khắp không gian u ám của địa ngục. Sau khi thân thể tội hồn bị nướng cháy, quỷ sứ sẽ dùng dao sắc cạo hết phần thịt còn sót lại trên thân thể, cạo đến khi trơ xương ra thì mới thôi. Sau mỗi lần cực hình kết thúc, quỷ binh lại đem ngâm thân thể tan nát của các tội hồn trong một loại nước thuốc đặc sệt và dùng thần chú pháp thuật khiến thân thể dần dần khôi phục lại bình thường. Quá trình khôi phục thân thể cũng cực kỳ thống khổ, thân thể của tội hồn sau khi hoàn toàn khôi phục xong lại tiếp tục chịu cực hình, lặp đi lặp lại ngày đêm không ngừng nghỉ. Thế nhưng đây mới chỉ là một trong vô số loại cực hình ở địa ngục mà họ phải chịu đựng.

Tôi trông thấy số lượng người phải chịu cực hình ở địa ngục không ngừng tăng lên, đại đa số tội hồn bị đày xuống địa ngục này là những kẻ ác khi sống đã hành ác đối với đệ tử Đại Pháp hoặc có thái độ không tốt đối với Đại Pháp, và những người dùng các thủ đoạn phá hoại xã hội nhân loại. Những tội hồn này sẽ phải chịu đựng lặp đi lặp lại 1800 loại cực hình khác nhau dưới địa ngục, từng thớ thịt, từng tế bào của họ mọi thời khắc đều phải chịu nỗi thống khổ bị tra tấn, quá trình chịu hình phạt gần như vĩnh viễn không bao giờ kết thúc này sẽ phá hủy ý chí của từng tội hồn. Trong quá trình này họ không có bất kỳ hy vọng nào được giải thoát, chỉ vào những thời khắc ngắn ngủi dừng hành hình, họ mới có thời gian tự mình sám hối về những hành vi tàn ác đối với đệ tử Đại Pháp và những tổn thất không thể vãn hồi gây ra cho người khác và cho xã hội. Dù tội hồn khi sống huy hoàng thế nào, tại xã hội con người có quyền cao chức trọng thế nào, thì bây giờ đều bị giáng hạ thành quỷ tù đày. Dù hối hận nhưng cũng không thể làm gì, nguyện vọng lớn nhất từ tận đáy lòng họ là có ai đó có thể giơ tay siêu độ cứu rỗi họ, nhưng biết nói với ai bây giờ? Chúng Thần trên thiên thượng nhìn thấy tình cảnh thê thảm của họ khi chịu hình phạt, mặc dù mang tâm thương xót nhưng cũng chẳng thể làm gì, chỉ biết thở dài. Phía dưới 18 tầng địa ngục có một không gian đặc biệt bí mật, đây là nơi giam giữ những kẻ trọng tội sắp sửa bị đánh nhập vào Vô sinh chi môn (cửa vô sinh), những tội linh này khi sống đã làm những việc xấu phá hoại Đại Pháp và bức hại các đệ tử Đại Pháp, hoặc làm những việc phá hoại luân lý đạo đức và chính tín chính niệm trong xã hội nhân loại trên diện rộng. Lúc còn sống họ đã không thể vãn hồi, bù đắp hậu quả do những lời nói và hành động xấu của mình gây ra, cuối cùng bị đày xuống địa ngục và bị giam giữ ở đây. Sau khi liên tục chịu 1800 loại cực hình dưới địa ngục, các tội linh bị giam cầm ở đây chờ đợi bị đánh vào Vô sinh chi môn.

Nói tới Vô sinh chi môn, tôi tin rằng rất nhiều người không biết nơi đó là gì, vậy thì Vô sinh chi môn ở đâu? Trong cảnh giới của tôi triển hiện lối vào Vô sinh chi môn là một đường thông bằng năng lượng nằm ở không gian bên trong tầng địa ngục thứ 18. Bên trong đó u ám, hoang vu, tĩnh lặng và rất thê lương, không có bất kỳ dấu hiệu nào của sinh mệnh và vật chất. Trong không gian đen tối này có một tấm bia đá rất lớn cao 35m và rộng 15m đặt ở chính giữa, trên đó viết bốn chữ triện lớn “Vô sinh chi môn”. Phía sau bia đá có có một bức tường năng lượng màu xanh nhạt cao và dài vô hạn, trên đó thỉnh thoảng có ánh chớp di động, đây chính là lối vào không gian dẫn đến Vô sinh chi môn. Trong cảnh giới tu luyện của tôi triển hiện, Vô sinh chi môn là một không gian hỗn độn hoàn toàn do công của Thần tạo thành, mỗi lạp tử của không gian đều là hình tượng của Thần, bên trong Vô sinh chi môn sớm đã chật kín người rồi, các tội linh ở đây đều là các sinh mệnh bị chính Pháp đào thải. Có các sinh mệnh cao tầng của các không gian khác nhau trong vũ trụ, cũng có những kẻ ác đã phạm tội đối với Đại Pháp, v.v.. Trong không gian Vô sinh chi môn phân thành 81 tầng, do Như Lai có quả vị trong chính Pháp trực tiếp chưởng quản, các sự việc cụ thể do Bồ Tát xử lý. Trong tầng thứ nhất của Vô sinh chi môn, tôi trông thấy ở đó không có khái niệm đất và trời, toàn bộ không gian là màu đỏ sậm, không có lục địa, chỉ có một vùng biển “Lưu toan hải” (biển axit sulfuric) tràn ngập không gian kéo dài vô tận. Nhìn kỹ thì trên mặt biển bao phủ bởi vô số thân thể của các tội linh, nồng độ axit ở đây cao gấp nhiều lần so với axit sulfuric ở nhân gian, càng đi sâu vào trong thì nồng độ và mật độ axit càng đậm đặc. Biển “Lưu toan hải” này sâu không thấy đáy, những tội linh gây ra tội nghiệp càng lớn thì sẽ bị chìm xuống càng sâu, axit sulfuric mọi lúc đều ăn mòn từng lạp tử của thân thể tội linh. Các tầng không gian khác nhau của 81 tầng vô sinh chi môn có các phương thức tiêu hủy và hoàn cảnh vật chất tồn tại khác nhau. Tội linh bị tiêu hủy tầng tầng, trải qua một lượt 81 tầng bên trong Vô sinh chi môn là bị hủy diệt hầu như không còn gì, cuối cùng bị đánh nhập vào Cực âm chi địa (vùng đất cực âm). Sư tôn trong giảng Pháp đã giảng về Pháp lý liên quan đến nơi này, ở đây tôi sẽ không nói thêm nữa. Do hình phạt phải chịu tại các tầng không gian này quá khủng khiếp, nên tôi sẽ không nói chi tiết, các đồng tu quan tâm có thể tham khảo tìm hiểu các sách liên quan.

Tiếp sau địa ngục, dưới đây tôi sẽ nói về nhân gian. Khoảng cách giữa địa ngục và nhân gian theo như tôi thấy chỉ cách nhau một điểm. Xã hội nhân loại ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm cho đời sống vật chất của con người trở nên vô cùng phong phú, con người sống trong hoàn cảnh quá an nhàn, thoải mái, lại bị dẫn dắt bởi rất nhiều tuyên truyền sai lệch như thuyết vô thần, thuyết tiến hóa khiến chính tín của con người bị phá hoại, khiến con người rất ít tín tâm vào Thần. Biết bao người dưới sự sai khiến của lợi ích đã gây nghiệp lực to lớn mà vẫn không hay biết, thậm chí họ còn tiếp tục làm điều xấu một cách vui vẻ không biết chán. Nợ cũ chưa trả lại thêm nợ mới, họ chỉ chạy theo cái lợi trước mắt mà vứt bỏ đi hạnh phúc vĩnh viễn của sinh mệnh. Sau đây tôi sẽ nêu ra một vài ví dụ để cảnh tỉnh.

Ở Hồng Kông có một nam diễn viên nổi tiếng làm quảng cáo cho rất nhiều trò chơi điện tử trực tuyến, tôi sử dụng công năng thấy những hành động quảng cáo, truyền thông của anh ta đã gây ảnh hưởng tiêu cực tới cuộc sống bình thường của hàng triệu người, can nhiễu trật tự sinh hoạt bình thường của hàng trăm nghìn gia đình. Rất nhiều người mê đắm trong trò chơi điện tử, không quan tâm đến mọi người và sự việc xung quanh, thậm chí có khả năng sẽ mất cơ duyên được đệ tử Đại Pháp giảng chân tướng. Đây không phải chuyện nhỏ, con người hiện nay đều vì Pháp mà đến, ảnh hưởng đến chính tín của con người đối với Đại Pháp, tội nghiệp lớn như vậy, người này sao có thể bồi hoàn được? Nếu anh ta không nhận thức được hậu quả mà mình gây ra để vãn hồi tổn thất thì điều chờ đợi anh ta trong tương lai là cực kỳ đáng sợ. Tôi nhìn thấy tổ tiên bảy đời của anh ta đang ngày đêm không ngừng bị quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa quất bằng roi, máu me đầy thân, rên la thảm thiết. Tổ tiên của anh ta trong khi chịu hình phạt không ngừng nguyền rủa anh ta: “Đứa con bất hiếu này đã hại chúng ta thê thảm như thế này. Đồ bất hiếu, ôi thật là bất hiếu!” Tôi còn thấy một nam diễn viên khá có tiếng tăm ở Trung Quốc đại lục, vì đóng các bộ phim khiêu dâm mà tạo nghiệp rất lớn. Đây là bộ phim cổ xúy cho tình yêu không phân biệt tuổi tác, làm loạn luân thường đạo lý, bộ phim này đã được chiếu rộng rãi trên toàn quốc, gây tác dụng tiêu cực phá hoại luân lý và đạo đức xã hội nhân loại trên diện rất rộng. Trong cảnh giới của tôi triển hiện, con cháu bảy đời của anh ta đều bị giảm đi phúc lộc thọ, con cháu thế hệ sau sẽ có nhiều người bị tàn tật hoặc phải đi ăn xin sống qua ngày, nếu bản thân anh ta không vãn hồi tổn thất thì sau khi chết sẽ bị rơi vào địa ngục, vĩnh viễn không có ngày ra.

Người ta khi còn sống, còn thân người thì còn có cơ hội bù đắp sai lầm, một khi làm ác mà mất đi thân người thì sẽ không còn cách nào hồi vãn. Gần đây tôi đọc được tin tức trên mạng về Chu Hiến Phúc nguyên là phó bí thư Ủy ban pháp luật thành phố Ngũ Thường, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc. Năm 1999 khi Giang Trạch Dân bắt đầu bức hại Pháp Luân công, ông ta đảm nhận chức chủ nhiệm Phòng 610 của thành phố Ngũ Thường, ông ta đã trực tiếp thao túng và sai khiến nhiều người tống tiền gia đình của các học viên Pháp Luân Công, với mưu đồ bức hại học viên Pháp Luân Công. Ông ta làm nhiều việc bất nghĩa cuối cùng bị trời trừng phạt, ngày 20/12/2017, ông ta mắc bệnh ung thư phổi và chết năm 67 tuổi. Tôi dùng công năng nhìn thấy Chu Hiến Phúc bị hai quỷ sứ âm phủ mặc quan phục cổ đại màu đen, dùng xích sắt xích cổ lôi đi. Vào lúc hồn vía rời khỏi thân thể, Chu Hiến Phúc còn quay đầu nhìn người nhà lần cuối, nét mặt đầy âu lo và lưu luyến. Ông ta nơm nớp lo sợ hỏi âm sai: “Chúng ta đi đâu đây?” Quỷ sứ trừng mắt đáp: “Không cần hỏi nhiều, đến đó rồi sẽ biết!” Một quỷ sứ khác đáp: “Nếu biết trước có ngày này thì tại sao khi còn sống ngươi đã làm nhiều việc ác như vậy, phỉ báng Phật Pháp, giết hại người tu luyện, gian dâm với phụ nữ, e rằng ngươi phải vào địa ngục không có ngày ra, khỏi phải nhiều lời như vậy nữa”. Chu Hiến Phúc bị áp giải đến trước điện Diêm Vương, lúc này ký ức của ông ta toàn bộ được mở ra, toàn bộ những hành vi đã làm lúc còn sống nay hiện ra trước mắt. Vốn dĩ ông ta được đầu thai xuống thế gian để đắc Pháp, nhưng khi được thân người lại toàn làm những việc xấu loạn Pháp, lúc này trong tâm ông ta cảm thấy vô cùng hối hận không thốt lên lời, nhưng đã quá muộn rồi. Sau khi xem xét sổ ghi chép những việc thiện ác đã làm lúc sống của ông ta, Diêm Vương phẫn nộ nói: “Đưa tên lạn quỷ phá hoại Phật Pháp này xuống tầng địa ngục thứ 18 chờ xét xử”. Diêm Vương trừng mắt nhìn Chu Hiến Phúc bị áp giải đi, nghĩ trong tâm: “Tội tử hình!” Trong địa ngục, tôi còn nhìn thấy một gương mặt quen thuộc, đây là người phụ trách chương trình tin tức của CCTV. Anh ta chết vài năm trước đây, đã phải hơn ba lần trải qua 1800 hình phạt tàn khốc của địa ngục, tương lai sẽ bị hai quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa áp tải vào Vô sinh chi môn. Nhìn ánh mắt anh ta đầy sợ hãi, từng tế bào trên thân đều run rẩy, đau buồn vì tương lai anh ta sẽ phải chịu những thống khổ vĩnh viễn không ngừng.

Nhân thân nan đắc, có thể trở thành một đệ tử Đại Pháp vào lúc chính Pháp hồng truyền thật vô cùng vinh quang. Nhưng có những người đã đắc Pháp mà lại không biết trân quý cơ duyên đắc chính Pháp, không chân tu mà làm những việc xấu không phù hợp với Đại Pháp. Có người lợi dụng sự thiện lương của đệ tử Đại Pháp mà làm các hoạt động bán hàng đa cấp lừa gạt tiền của các đệ tử Đại Pháp kiếm lời bất chính; có người tự tâm sinh ma đốt kinh sách Đại Pháp, thậm chí xúi giục các học viên mà chủ ý thức không mạnh đốt kinh sách Đại Pháp, thậm chí kích động, lừa gạt các đồng tu trong nước và hải ngoại không biết sự thực, khi được các đệ tử Đại Pháp khuyên bảo phải quy chính thì chế giễu, phỉ báng họ. Mang danh đệ tử Đại pháp, trên thực tế là ma đang can nhiễu làm các việc xấu loạn Pháp, có người trong thời gian dài không bỏ tâm tật đối cũng không tu khẩu, phỉ báng đồng tu tạo ra gián cách, nghiêm trọng hơn là tự ý sử dụng tiền quyên góp của người tu luyện dùng cho việc cứu độ chúng sinh vào việc riêng, dùng tiền không rõ ràng, khi bị đồng tu điều phối thúc giục mới trả lại tiền, nhưng lại độc ác đặt điều vu khống, miệt thị những đồng tu đã quyên góp và những đồng tu biết được việc làm của anh ta; có người lấy danh nghĩa người điều phối thường xuyên phạm phải vấn đề quan hệ nam nữ, khiến cho trạng thái tu luyện của các nữ đồng tu tiếp xúc với anh ta sa sút nghiêm trọng, nhiều người không học Pháp luyện công, gây tổn thất khôn lường. Những người phạm phải những việc xấu như vậy, tôi trông thấy chủ nguyên thần của họ sớm đã ly khai nhục thân từ nhiều năm rồi, thân thể họ bị nghiệp lực bao phủ và bị tà linh phụ thể ngoại lai chiếm lấy. Có người chủ nguyên thần vẫn còn quanh quẩn trong trường không gian xung quanh nhục thân, có người thì phần Thần đã bị đưa vào địa ngục chịu đủ loại tra tấn cực hình, tầng tầng Thần thể bên ngoài tam giới bị hủy diệt triệt để. Sư tôn đã phải chịu đựng rất lớn để kéo dài thời gian kết thúc chính Pháp, xin đừng bỏ lỡ cơ duyên tu luyện chính Pháp chỉ thoáng qua trong nháy mắt này. Một khi mất đi thân người thì sẽ mất đi hết thảy cơ hội để bù đắp tổn thất.

Một đời người trôi qua nhanh như một mùa cây cỏ. Trong tiến trình sinh mệnh dài đằng đẵng, mấy chục năm sống nơi trần thế cũng chỉ là trong chớp mắt. Sáng Thế Chủ và vô lượng chúng Thần đang từng giờ từng phút quan sát từng hành động từng lời nói của con người. Những người mang thiện niệm đối với Đại Pháp, có suy nghĩ đúng đắn đối với bản thân chính là khai sáng cho bản thân tương lai tốt đẹp nhất.

10. Đồng tính luyến ái và ma túy

Hiện tượng đồng tính luyến ái đã xuất hiện từ lâu, trong các sách cổ như “Đoạn tụ chi tích” và “Long Dương chi hiếu” đã có ghi chép về các hành vi đồng tính luyến ái. Từ xưa đến nay nhóm người đồng tính luyến ái luôn là nhóm người nhận phải nhiều lời đàm tiếu của xã hội, đến ngày nay tuy đồng tính luyến ái đã được nhiều quốc gia hợp pháp hóa, nhưng chắc chắn nó đã gây nhiều ảnh hưởng xấu cho xã hội. Hành vi đồng tính luyến ái đi ngược lại với tư tưởng chính thống trong văn hóa Thần truyền Trung Quốc.

Gần đây tôi có xem một video clip có liên quan đến đồng tính luyến ái, kể về một cô gái ở Hàng Châu là người ủng hộ đồng tính luyến ái ở Trung Quốc đại lục, cô ấy đã cùng rất nhiều người đồng tính thành lập hội những người đồng tính ở Hàng Châu. Tôi thấy rất hiếu kỳ tại sao cô ấy dành hết tâm huyết cho vấn đề đồng tính. Xem xét lịch sử sinh mệnh của cô gái ấy, tôi phát hiện ra nguyên lai sinh mệnh của cô là con thứ bảy của quỷ Sa tăng, theo ngôn ngữ của ma giới gọi là Long Thái Tư Lãng (nghĩa là nguồn gốc của tai ương), nó xuất hiện ở thời đại nào thì chính là lời nguyền ác độc nhất của quỷ Sa tăng đối với xã hội thời đó. Quỷ Long Thái Tư Lãng đã từng chuyển sinh vào thời đại bạo chúa Nero thống trị đế quốc La Mã, đời đó nó chuyển sinh thành một người đàn ông đồng tính tên là Hải Hy, là người dốc sức tuyên truyền giải phóng tình dục, cổ xúy cho các hành vi ma tính như đồng tính luyến ái, loạn luân, bị giáo hội xử tử hình bằng cách đóng đinh trên thập tự giá năm 36 tuổi. Sau khi chết, anh ta bị đày xuống địa ngục phương Tây và chịu đủ các loại cực hình của địa ngục. Vào thế kỷ 14, nó lại chuyển sinh thành một mụ phù thủy tại Châu Âu, bị tà linh cao tầng hơn khống chế gieo rắc dịch bệnh, mụ phù thủy này là người đã gây ra đại dịch “cái chết đen”. Bà ta đi đến đâu là truyền bệnh dịch đến đó, những nơi mà bà ta đi qua nhanh chóng bùng phát dịch bệnh trên diện rộng, trong vòng mấy trăm năm, số người Châu Âu bị chết do dịch bệnh “cái chết đen” đã vượt quá 25 triệu người. Mụ phù thủy này sau khi chết lại bị đày vào địa ngục, đến đời này được cựu thế lực an bài chuyển sinh vào Trung Quốc, vẫn là để làm các việc xấu xa, bại hoại, phá hoại luân lý, đảo lộn trật tự xã hội nhân loại.

Tôi còn thấy một hiện tượng nữa, những người đồng tính đều bị ma quỷ là yêu quái đầu dê khống chế sau lưng, chúng có hình dạng mắt màu đỏ, khuôn mặt màu xanh lục, có một cặp sừng dê cong về phía sau, trên thân có lông dài màu đen hoặc trắng, con nhỏ cao khoảng 1,3m, con lớn cao khoảng 2,5m, loại quỷ thú này có nửa thân trên là tay người, nửa thân dưới là chân dê. Nếu một cá nhân hoàn toàn chấp nhận các hành vi và tư tưởng đồng tính luyến ái, có hành vi sinh hoạt đồng tính trong thời gian dài không bài xích, thì sẽ bị yêu quái đầu dê trực tiếp sử dụng ma pháp khống chế và nhập vào thân thể. Khi con người tiến hành các hành vi đồng tính luyến ái thì trong quá trình này yêu quái đầu dê sẽ hấp thu dương khí của con người để bổ sung năng lượng cho tự thân, tăng cường ma lực. Tôi thấy nhiều cuộc diễu hành đồng tính lớn trên khắp thế giới, tại không gian khác mà nhìn đều do một hoặc một vài yêu quái đầu dê lớn dẫn đầu mấy chục con yêu quái đầu dê nhỏ khống chế con người làm những việc đi ngược lại an bài của Thần, khiến con người bước dần đến vực sâu bị đào thải. Trong mắt quỷ Sa tăng, những người đồng tính này chẳng qua chỉ là một nhóm công cụ nhỏ bé không đáng kể dưới lá cờ đen của nó mà thôi.

Tôi có đọc một bài tin trên mạng đăng: “Bệnh AIDS gia tăng trong sinh viên đại học ở Bắc Kinh”, các số liệu trong bài báo cho thấy số lượng sinh viên đại học ở Bắc Kinh mắc bệnh AIDS đang gia tăng nhanh chóng, theo thống kê năm ngoái (năm 2017) có 1244 trường hợp mắc bệnh, năm nay số người mắc bệnh tăng thêm 50 trường hợp, trong số đó tỷ lệ nam sinh viên đại học mắc bệnh AIDS chiếm 98,48%, các trường hợp mắc bệnh do các hành vi đồng tính nam lên đến 86,70%, phân bố tại 59 trường đại học và cao đẳng ở Bắc Kinh. Trung Quốc là xã hội theo chủ nghĩa vô Thần, nhân tâm không có đạo đức ước thúc nên nhân tính trượt dốc là lẽ đương nhiên. Vì sao tỷ lệ người đồng tính mắc bệnh AIDS lại cao đến vậy? Theo tôi thấy, thực ra đó là trừng phạt của ông Trời đối với những người đồng tính, ông Trời lợi dụng bệnh AIDS để đào thải những sinh mệnh tà ác đang phá hoại quy phạm đạo đức xã hội nhân loại trên diện rộng.

Đến ngày 12/7/2017, trên thế giới có 24 chính phủ tuyên bố hợp pháp hóa đồng tính luyến ái. Trong các giáo nghĩa của các tín ngưỡng chính giáo phương Tây đều không thừa nhận các hành vi đồng tính luyến ái, hợp pháp hóa đồng tính luyến ái là hành vi nghịch thiên phản đạo, vậy vì sao nó lại xuất hiện vào thời kỳ lịch sử đặc biệt này? Trong cảnh giới tu luyện của tôi triển hiện, cựu thế lực muốn lợi dụng một số người đạo đức bại hoại để làm đảo lộn trật tự đạo đức xã hội nhân loại, khiến cho nhiều người hơn rời xa Thần, gây chướng ngại ngăn cản chúng sinh có cơ hội được Đại Pháp cứu độ. Những người đề xướng, cổ xúy cho đồng tính luyến ái, trong mắt của chúng Thần họ đã phạm phải đại tội cực ác, lịch sử tương lai sẽ chứng minh tất cả. Những nơi mà đồng tính luyến ái phổ biến, dân số sẽ giảm xuống từ từ, năng lực của quốc gia sẽ suy thoái. Tôi thường xem xét một số quốc gia trên thế giới có một số loài sinh vật bị tuyệt chủng một cách bất thường hoặc bị lũ lụt một cách bất thường, đây không phải là những hiện tượng tự nhiên, mà phần lớn là do những quốc gia đó ủng hộ rộng rãi đồng tính luyến ái và các hành vi làm loạn nhân tính khác.

Con người sống trên đời nên biết nhìn nhận vấn đề một cách lý trí và thanh tỉnh, thay vì thuận theo dòng chảy của xã hội một cách không suy nghĩ, trong giai đoạn lịch sử đặc thù hiện nay, một niệm của con người thực sự sẽ định ra tương lai của bản thân. Những người trong tư tưởng chấp nhận hành vi đồng tính luyến ái cũng có là tội, họ sẽ bị Thần ghi chép lại tội lỗi, vào lúc đào thải nhân loại, đầu tiên sẽ phán quyết tương lai của họ. Người không cải biến quan niệm cuối cũng sẽ bị đào thải, vĩnh viến mất đi thân người cũng như cơ hội được Thần cứu độ.

Nhìn lại lịch sử không khó để phát hiện, có rất nhiều nền văn minh tiền sử vào thời kỳ cuối khi đạo đức ngày một trượt dốc, đều xuất hiện các hành vi đồng tính luyến ái cũng như các hành vi tình dục bừa bãi khác trên diện rộng. Một ví dụ điển hình là vương triều cuối cùng của Hy Lạp cổ đại đã bị nhấn chìm dưới đáy biển. Cách đây 13.000 năm, trên vùng đất Hy Lạp ngày nay có một quốc gia tên là vương quốc Á Địch Tư (nghĩa là đất nước vĩnh cửu), quốc gia này theo chế độ quân chủ lập hiến, nghị viện là nơi quản lý mọi việc trong đất nước, quân chủ chỉ là vương quyền tượng trưng. Dân số quốc gia có 80 triệu người, thuộc chủng người da trắng Châu Âu, họ là tổ tiên của chủng người da trắng Châu Âu ngày nay. Vương quốc Á Địch Tư thuộc về xã hội bán nô lệ, xã hội về cơ bản được phân thành ba tầng lớp là quý tộc, bình dân và nô lệ, nam giới nắm quyền lực. Vương triều thời kỳ đầu có lực lượng quân đội rất hùng mạnh, chinh phạt khắp nơi, các thành bang xung quanh đều phải khuất phục. Vương triều Á Địch Tư tồn tại gần 200 năm và trải qua tám đời quân vương, vào thời cuối của vương triều, đạo đức vô cùng bại hoại, con người tín phụng tà giáo nên bị Trời trừng phạt, do nghiệp lực của chúng sinh đã hấp dẫn ma quỷ bắt đầu đến làm loạn thế gian. Đồng tính luyến ái nguyên ban đầu được truyền ra từ các tu viện tà giáo, tiếp đến thịnh hành trong giới quý tộc, sau đó dần dần phổ biến trên toàn quốc. Người đồng tính nam tụ tập ở những nơi như là quán bar ngày nay, còn có người mở kỹ viện đồng tính để chuyên phục vụ những người đồng tính nam. Tiếp đến các quan lại quý tộc đã mua những bé trai tuấn tú từ những kẻ buôn người để phục vụ cho nhu cầu của mình, giá của những bé trai tướng mạo tốt cao gấp ba lần những bé gái cùng tuổi. Hoạt động đồng tính nữ đa phần diễn ra bí mật giữa những người cực kỳ thân thiết như chủ tớ hoặc bạn bè, trong số những binh lính đóng tại nước ngoài cũng xuất hiện rất nhiều người đồng tính. Tâm lý con người thời đó rất đen tối và biến dị, họ đã biến hành vi này thành một loại phương thức giải thoát để không chịu sự ràng buộc bởi nhân tính và sự ước thúc của Thần, việc chấp nhận đồng tính luyến ái là tư tưởng thời thượng khi đó. Trên rất nhiều đồ gốm sứ thời Hy Lạp cổ đại được khai quật ngày nay, chúng ta có thể thấy từng ngóc ngách của một xã hội tràn đầy dâm loạn. Không chỉ thế, tôi sử dụng công năng để xem xét mỹ thuật, âm nhạc, kịch cũng như các phương diện nghệ thuật khác của thời đó đều có nội dung ca ngợi đồng tính luyến ái, có thể thấy rằng tình trạng suy đồi, dâm loạn của xã hội thời đó vô cùng nghiêm trọng. Quân chủ đời thứ sáu của vương triều Á Địch Tư đã di rời thủ đô đến đại lục Atlantis cách đại lục Châu Âu vài trăm hải lý, đây là vương triều cuối cùng trước khi Đại lục Atlantis chìm xuống đáy biển.

Vương triều vào thời kỳ cuối ôn dịch hoành hành, vương triều thứ bảy xuất hiện ba lần đại ôn dịch, lần ôn dịch cuối cùng khiến cho hơn 67 triệu người tử vong. Loại ôn dịch này lây qua đường hơi thở và dịch cơ thể, có người trong khi nói chuyện đột nhiên hôn mê, bất tỉnh nhân sự; có người nhiễm bệnh thần trí không tỉnh, miệng sủi bọt mép, toàn thân xuất hiện những mụn đỏ, đặc biệt vùng sinh dục chuyển sang màu đen và chảy ra dịch mủ màu đen, tiếp theo đó là tình trạng toàn thân lở loét nghiêm trọng, người mắc bệnh không có cách nào chữa trị, thông thường trong vòng ba đến bảy ngày là chết. Dịch bệnh diễn ra trong vòng ba năm, sau khi dịch bệnh kết thúc, ruộng đồng bỏ hoang, những thi thể thối rữa chất cao như núi, phần lớn không được chôn cất. Người còn sống thì ánh mắt đờ đẫn, sắc mặt xám xịt, trông như những xác chết biết đi. Rồi ngay cả những “xác sống” như vậy cuối cùng cũng không còn thấy một ai. Khắp vương quốc tràn đầy tử khí, từng bầy quạ đen tụ tập trên các mái nhà và các bụi cây nơi những người sống sót sinh sống, những bầy gia súc không có ai chăm sóc chạy lang thang trên những cánh đồng trải đầy xương trắng, quốc gia phồn vinh khi xưa giờ không một bóng người, trở thành một quốc gia của dã thú. Những người sống sót sau trận đại dịch vô cùng hối hận, họ thành tâm hướng đến thần linh cầu xin sám hối. Rất nhiều người thậm chí còn tự dùng roi đánh mình để trừng phạt bản thân. Cuối cùng, vương quốc Á Địch Tư bị một đế quốc hùng mạnh ở Châu Phi nằm ở khu vực nước Ethiopia ngày nay thôn tính, người dân trở thành nô lệ. Vương quốc đã từng thống trị châu Âu khi xưa nay đã bị nhấn chìm một cách vô tình trong dòng chảy cuồn cuộn của lịch sử…

Hai năm gần đây, trong giới văn nghệ sĩ của Trung Quốc đại lục ngày càng có nhiều người sử dụng ma túy, rất nhiều người nổi tiếng từ vũ đài vinh quang rớt xuống bùn nhơ, trở thành những con nghiện ma túy bị mọi người khinh bỉ. Đề tài ma túy một thời gian đã trở thành vấn đề được bàn tán sôi nổi của người dân ở Trung Quốc. Rất nhiều người lên các diễn đàn internet dùng ngòi bút để phê phán các nghệ sỹ này và cũng thể hiện thái độ căm ghét đối với những nguy hại mà ma túy mang lại cho nhân loại.

Từ xưa đến nay, vào thời kỳ cuối của mỗi nền văn minh tiền sử, cùng với sự trượt dốc của đạo đức xã hội thì những hành vi sử dụng ma túy này cũng xuất hiện. Trong cảnh giới tu luyện của tôi triển hiện, ma túy không sinh ra trong không gian nhân loại của chúng ta, nó thực sự bắt nguồn từ thế giới của quỷ, là độc dược trong tay quỷ Sa tăng, độc dược này có màu lam nhạt, có thành phần tương tự như máu của quỷ Sa tăng, nó có tính kích thích và tính ăn mòn rất mạnh. Quỷ Sa tăng đã chế độc dược thành rất nhiều dạng thức khác nhau, phản ánh đến không gian của chúng ta tạo thành các loại ma túy mà chúng ta biết hiện nay. Quỷ Sa tăng đưa ma túy đến các không gian khác nhau trong tam giới, do vậy không chỉ trên Trái đất có ma túy, mà các thiên hà khác nơi có người ngoài hành tinh tồn tại cũng có các loại ma túy với hình thức khác nhau. Người ngoài hành tinh thông qua tác dụng gây ảo giác của ma túy để khiến cho linh hồn họ rời khỏi thể xác tiến nhập vào không gian khác. Vì kết cấu thân thể người ngoài hành tinh so với kết cấu thân thể của người Trái đất có sự khác nhau rất lớn, nên ảnh hưởng và tác hại của ma túy đối với thân thể của họ ít hơn nhiều so với tác hại gây ra cho thân thể người Trái đất. Trong lịch sử, những người ngoài hành tinh đã đến Trái đất và mang ma túy ở hành tinh của họ truyền cho nhân loại, với ý đồ phá hủy ý chí của nhân loại để chiếm lấy Trái đất. Trong thời kỳ lịch sử đặc thù hiện nay, người ngoài hành tinh từ các không gian khác nhau trong tam giới đã chạy đến Trái đất, họ khống chế tư duy của con người Trái đất để nghiên cứu ra các loại ma túy hóa học, những tổn hại mà ma túy gây ra cho nhân loại lớn chưa từng có, như loại ma túy mới hiện nay là MDPV cũng có nguồn gốc từ người ngoài hành tinh.

Tiếp theo tôi sẽ nói về tác hại của một số loại ma túy chủ yếu đối với thân thể con người. Về cần sa, tại không gian khác thì thấy người hút cần sa sẽ chiêu mời rất nhiều loại độc trùng (côn trùng có độc) giống như muỗi, chúng bám trên thân thể người đang hút ma túy tại không gian khác với số lượng lớn để hấp thu tinh khí của con người, thời gian hút ma túy càng lâu thì mùi độc khí từ thân thể tỏa ra sẽ chiêu mời càng nhiều độc trùng, gây tổn hại càng lớn đối với cơ thể. Cocaine là loại ma túy sẽ phá hoại và làm tê liệt hệ thần kinh của đại não, gây khó khăn trong việc điều khiển tứ chi, khiến chủ ý thức mất đi khống chế, mặc cho ma tính phát tác. Ma quỷ cho rằng cocaine là loại ma túy có thể cướp đi tâm thần của con người, lấy đi tính mạng của con người, nếu sử dụng trong thời gian dài, thì nhìn tại không gian khác thân thể con người sẽ dần dần chuyển thành đen, các cơ quan trọng yếu của thân thể sẽ biến thành màu nâu đen, sau đó dần dần suy kiệt và hoại tử. Còn về heroin, qua công năng tôi thấy rằng tác hại chủ yếu của heroin là gây tổn thương nghiêm trọng cho hệ thống thần kinh đại não và hệ thống thần kinh tủy sống, người sử dụng quá nhiều có thể bị suy kiệt gan thận. Người sử dụng heroin xong sẽ cảm thấy vui thích và phấn chấn trong thời gian ngắn, từ không gian khác thì thấy linh hồn của người đó (như một khối khí to cỡ nắm tay) ở trạng thái bán ly thể, không ngừng bay loạn xạ xung quanh đại não, xuyên qua lại bên trong và bên ngoài đại não. Người sử dụng ma túy lúc này yếu nhược nhất, những phụ thể hoặc âm linh ở không gian khác do ma túy thu hút tới sẽ khống chế người đó làm một số động tác và hành vi rất kỳ quái, thậm chí tự ngược đãi bản thân hoặc làm tổn hại đến người khác. Khi người sử dụng heroin trong thời gian dài, thân thể ở không gian khác sẽ hình thành một trường vật chất và một mùi rất đặc biệt có khả năng chiêu dẫn đến một loại âm linh hình thù quái dị, mà Thần phương Tây gọi là con thú hút máu của địa ngục, Thần phương Đông gọi là huyết ma (ma hút máu). Âm linh này cao khoảng 2m, có thân mình giống con người nhưng tứ chi dài và khô quắt, tay và chân chỉ có 3 ngón, trên đầu có một cái vòi như vòi của con ruồi xanh, chỉ khác là cái vòi này dài hơn và rủ xuống đến ngực. Khi người nghiện dùng một lượng lớn heroin, con âm linh sẽ cắm cái vòi của nó vào sau lưng người nghiện ở không gian khác để hút khí huyết của người đó, đồng thời sẽ bơm vào bên trong cơ thể người nghiện một loại chất gây mê, có tác dụng khống chế tư tưởng và gia tăng mức độ gây nghiện. Một tác hại nữa của heroin đối với cơ thể con người là do hao tổn nguyên khí quá lớn nên sau khi ma túy hết tác dụng, thân thể sẽ xuất hiện cảm giác cực kỳ mệt mỏi, tinh thần và thể xác mất kiểm soát, sử dụng ma túy một lần thì sẽ phải mất ít nhất một tuần đến nửa tháng mới có thể khôi phục sức khỏe. Tương tự như pháp luật của nhân gian, âm phủ có quy định rõ ràng tội danh đối với người buôn bán ma túy và người sử dụng ma túy ở dương gian sau khi chết như sau: Người tự bỏ tiền của mình để mua ma túy sử dụng, sau khi chết xuống âm phủ sẽ bị kết tội phải lao dịch một số năm. Nhưng những người buôn bán ma túy sẽ phải chịu trọng tội, âm phủ căn cứ trên mức độ nghiêm trọng mà định ra ba cấp độ hình phạt đối với người buôn bán ma túy: Cấp độ thấp nhất là bị đày xuống địa ngục, sau khi bị tra tấn bởi các loại cực hình thì đa số sẽ phải chuyển sinh thành các loài động thực vật thủy sinh hạ đẳng. Cấp độ trung bình là sau khi chịu các hình phạt của địa ngục sẽ trực tiếp được phân vào súc sinh đạo, vĩnh viễn không bao giờ được đắc thân người. Cấp độ cao nhất là người buôn bán ma túy mà khi sống đã hại rất nhiều người nên sau khi chết sẽ bị đày xuống địa ngục, sau khi phải chịu các loại hình phạt tàn khốc cuối cùng sẽ chịu hình thần toàn diệt (hủy diệt triệt để).

Ma túy càng nguyên chất thì tác dụng phụ gây ra càng mạnh mẽ. Người sử dụng các loại ma túy khác nhau, tại không gian khác sẽ hình thành trường vật chất khác nhau tương ứng với loại ma túy đó. Tại tầng rất thấp mà nhìn thì trường vật chất của cần sa có màu nâu nhạt, cocaine có màu xám, heroin có màu xanh lục đậm. Ma túy nồng độ cao thì chính là thuốc độc. Màu sắc của ma túy phản ánh ra nơi tầng không gian cực cao là màu lam nhạt – màu máu của ma.

Nói về nghiện ma túy, tôi muốn nhân tiện chia sẻ với mọi người về một số hành vi không tốt thường thấy trong xã hội cũng có thể khiến con người bị nghiện. Đầu tiên nói về người nghiện cờ bạc, tôi thấy rất nhiều người kiếm được tiền nhờ đánh bạc, thậm chí bán cả linh hồn cho ma quỷ, bằng mọi giá dùng sinh mệnh đổi lấy tiền, trường không gian đối ứng với thân thể của họ sẽ chiêu mời tới phụ thể âm linh thủy tộc, người ham thích đánh bạc càng kiếm được nhiều tiền thì tinh khí của họ sẽ bị lấy mất càng nhiều. Trong cảnh giới của tôi triển hiện, một “ông hoàng” cờ bạc cao tuổi trong giới cờ bạc Trung Quốc là một con thanh long phạm thiên pháp chuyển thế, cả con trai và vợ cả của ông đều là long tộc chuyển sinh, nhân viên làm việc trong sòng bạc đa số đều là chúng sinh thủy tộc trong đời trước. Những người yêu cờ bạc như mạng sống là do bị âm linh bám vào thân thể, rất nhiều người cho dù muốn cai cờ bạc nhưng không thể cai được, những người này bị âm linh khống chế mê muội trong cờ bạc mà không cách nào tự thoát ra được. Người nghiện cờ bạc trong thời gian dài do có sự liên quan mật thiết về lợi ích và tiền bạc với sòng bạc, nên sau khi chết đại đa số đều chuyển sinh thành sinh mệnh trong thủy tộc.

Tiếp theo nói về đánh mạt chược, mạt chược rất phổ biến tại khu vực người da vàng Châu Á suốt gần 100 năm qua, nhiều người nghĩ rằng chơi mạt chược là cờ bạc nhỏ mà không nghĩ rằng càng chơi càng lún sâu, trở thành nghiện nặng khó bỏ. Trong số người thân, bạn bè tôi có một người suốt 10 năm qua không ngày nào không chơi mạt chược, có thể thấy là nghiện nặng đến mức nào. Ngẫu nghiên trong một lần nói chuyện với bạn, tôi dùng công năng nhìn thấy ở không gian khác đối ứng với vị trí thể tùng quả của cô ấy có một âm linh cao khoảng một tấc (1 tấc khoảng 1 inch=1,6cm) đang hút khí tinh hoa của cô ấy, âm linh này có hình dạng nửa thân trên là sói nửa thân dưới có đôi chân giống như chân người. Tôi xem xét kỹ lưỡng, hóa ra mạt chược không phải là sản phẩm của không gian nhân loại của chúng ta, nó đến từ âm gian, là hoạt động giải trí tiêu khiển một cách lén lút của âm quỷ bất hảo trong tầng không gian đó, đó là trò cờ bạc bị âm phủ nghiêm cấm, nhất là cấm sử dụng tiền của minh phủ (âm phủ) để đánh bạc. Những kẻ tụ tập chơi mạt chược tại âm gian bị âm sai bắt được theo luật sẽ chịu nhận hình phạt lao dịch. Hình thức xã hội của âm gian tương tự như hình thức xã hội của Trung quốc cổ đại, tiền tệ được sử dụng ở đó là vàng thỏi, bạc thỏi và đồng thỏi. Nhưng âm quỷ chơi mạt chược thường dùng đồ ăn quy ra tiền để trao đổi, cũng có thể dùng các đồ dùng sinh hoạt hàng ngày làm vật giao hoán khi đánh bạc.

Còn có một hình thức nghiện khác cực kỳ phổ biến trong xã hội hiện nay đó là nghiện internet. Tôi thấy trong một tầng không gian đối ứng với thân thể của người sử dụng internet có tín tức của người ngoài hành tinh, chúng là những sinh mệnh vô cùng quái dị, một loại sinh mệnh người máy, trên đầu có rất nhiều con mắt có khả năng kéo dài ra tựa như cái ống nước có gắn con mắt camera ở đầu. Khi một người sử dụng internet chính là đang vận chuyển năng lượng tích lũy cho chúng, mục đích của chúng là khống chế nhân loại và cuối cùng sẽ thay thế nhân loại. Rất nhiều người sử dụng internet đam mê chơi các trò chơi điện tử trên máy tính. Có một người mà tôi tiếp xúc, trước đây chìm đắm trong một trò chơi chiến đấu nhập vai tên là “thế giới ma thú”, tôi nhìn thấy trường không gian của anh ta có một âm linh có hình tượng giống như nhân vật anh ta chơi trong trò chơi, người chơi càng lâu thì nguyên khí trong cơ thể bị mất đi càng nhiều, âm linh sẽ cành mạnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt xã hội bình thường. Tôi đã nói lại cho anh ấy biết những điều mình nhìn thấy, anh ấy ý thức ra tính nguy hại của trò chơi, sau một thời gian không chơi trò chơi này, tinh thần của anh ấy cũng tốt lên, ma thú linh thể được nuôi dưỡng trong trường không gian của anh ấy cũng bị thanh trừ. Máy tính là khoa học kỹ thuật của người ngoài hành tinh, mỗi trò chơi trên máy tính đều là biểu hiện đối ứng tại thế giới con người của các thể hệ văn hóa ở các thiên hà khác nhau trong tam giới, trong đó chứa đựng tín tức của các sinh mệnh trong các thiên hà khác nhau.

Cuối cùng tôi sẽ nói về nghiện thuốc lá, hút thuốc lá là nghiện, tôi thấy rất nhiều người hút thuốc lâu năm, gần không gian đối ứng với thể tùng quả của người hút thuốc có âm linh đang hút máu của họ, nhân tố vật chất của khói thuốc lá sẽ xâm nhập vào máu con người, tại không gian khác sẽ sinh ra một trường vật chất có mùi vị đặc thù. Loại mùi vị này đặc biệt hấp dẫn với âm linh, tình huống này rất giống với người hút ma túy, chỉ khác nhau về mức độ. Với những sở thích bất thường này, không nên mê muội mà thừa nhận sự tồn tại của chúng, mà phải dùng lý trí để bài trừ chúng. Là người tu luyện – những đệ tử trợ Sư chính Pháp, cần phải chính niệm mà đối đãi với các hiện tượng không tốt của xã hội, chính lại hết thảy các nhân tố bất chính, tư tưởng càng đơn giản thì lực lượng càng mạnh, đây là trách nhiệm của một đệ tử Đại Pháp.

Nhân đây tôi sẽ bàn một chút về việc đốt tiền vàng, người Trung Quốc có tập tục đốt tiền vàng cho người thân đã qua đời, một là để tưởng nhớ đối với người thân đã qua đời, hai là hy vọng thông qua việc cúng bái có thể giúp người thân đã qua đời có được cuộc sống thoải mái ở âm gian. Theo tôi thấy chỉ là mong muốn chủ quan, tôi sử dụng công năng nhìn vào không gian khác khi con người đốt tiền vàng thì thấy đó chỉ là một đám cỏ cây màu xám, đốt vàng bạc dát mỏng thì đối ứng đến không gian khác chỉ là những miếng sắt. Chỉ có người tu đạo chân chính sử dụng pháp lực gia trì mới có khả năng khiến cho những đồ cúng tế do con người làm trở thành thực thể tại không gian khác. Tuy nhiên những người tu luyện chân chính sẽ không làm những việc như vậy, vì nếu sử dụng pháp lực để gia trì vật phẩm sẽ cải biến vận mệnh của âm quỷ, sẽ tổn hại đến công đức của bản thân, dương thọ và công trụ của người tu luyện đều sẽ bị giảm tương ứng.

Đồng tính luyến ái và sử dụng ma túy là hai loại hành vi phá hoại đi ngược lại với thiên lý của vũ trụ, con người thế gian nhiễm phải những hành vi này sẽ bị âm linh không gian khác khống chế và rất khó thoát ra, biện pháp giải quyết duy nhất chỉ có đi theo chính đạo, tu luyện chính pháp, chỉ có được Thần Phật chính pháp bảo hộ, tiêu trừ tà linh ở đằng sau thì mới được cứu. Hiện nay Pháp Luân Đại Pháp đang hồng truyền trong xã hội, những người có duyên xin đừng bỏ lỡ cơ duyên vạn cổ này. Trên thế giới hiện nay đã có hơn một trăm triệu người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, người tu luyện ở hàng chục quốc gia đã được tịnh hóa thân thể và tâm hồn trong khi tu luyện Đại Pháp, không chỉ thân thể được khỏe mạnh, nhanh chóng được khai mở ra một thế giới quan và vũ trụ quan mới, mà còn khai sáng cho bản thân một tương lai vô cùng tốt đẹp.

Tác giả: Đạo Minh / chanhkien.org / zhengjian.org

Săn Vé Máy Bay Giá Rẻ-Tìm Vé Rẻ Trong Tháng | Điện Máy - Công Nghệ | Dưỡng Da | Sức Khỏe & Sắc Đẹp | Sách VPP & Âm nhạc

About khaimo

Xem thêm

Đức Phật đưa ra dự ngôn về tương lai nhân loại, đến nay chuẩn xác phi thường

Đức Phật cho biết xã hội loài người sẽ xuất hiện rất nhiều hiện tượng …