Home / TÌM HIỂU LUẬT / Trường hợp nào công an phường được tạm giữ người?

Trường hợp nào công an phường được tạm giữ người?

Mới đây, chị V. (phường 19, quận Bình Thạnh, TP.HCM) khi đi chứng thực bản sao từ bản chính bằng tốt nghiệp tại phường đã bị công an phường tạm giữ từ 11 giờ đến hơn 16 giờ do nghi ngờ xài bằng giả.

Cụ thể, theo báo Tuổi Trẻ, ngày 9-1, chị V. khi đi sao y bằng tốt nghiệp THPT (do Sở GD&ĐT tỉnh Đồng Nai cấp) tại phường 19, quận Bình Thạnh. Do nghi ngờ bằng tốt nghiệp bị làm giả (dấu giáp lai hình và tem chống giả trên bằng không rõ), phường đã lập biên bản làm việc với chị V., tạm giữ bằng và chuyển vụ việc cho công an phường. Ngay sau đó, chị V. phải đến Công an phường 19 để ghi lời khai và bị tạm giữ tại đây xuyên trưa (từ 11 giờ đến 16 giờ), không được đi đâu kể cả ra ngoài mua thức ăn trưa.
Sau đó, vụ việc được làm sáng tỏ, bằng của chị V. được Sở GD&ĐT tỉnh Đồng Nai xác định là bằng thật. Chủ tịch phường, Ban chỉ huy Công an phường 19, cán bộ thụ lý vụ việc, Mặt trận Tổ quốc đã đến xin lỗi chị V. do đã có sai sót trong quá trình xử lý vụ việc. Bà Hà Thị Vân, Chủ tịch UBND phường 19, cho rằng việc lập biên bản đối với chị V. là không sai, tuy nhiên công an tạm giữ chị như thế là sai.
Như vậy, trong những trường hợp nào thì được tạm giữ người theo thủ tục hành chính? 

Theo Luật xử lý vi phạm hành chính 15/2012/QH13 quy định:

Việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác.

Mọi trường hợp tạm giữ người đều phải có quyết định bằng văn bản và phải giao cho người bị tạm giữ một bản.

Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không được quá 12 giờ; trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 24 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm.

Đối với người vi phạm quy chế biên giới hoặc vi phạm hành chính ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm.

Đối với người bị tạm giữ trên tàu bay, tàu biển thì phải chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền khi tàu bay đến sân bay, tàu biển cập cảng.

Nơi tạm giữ người theo thủ tục hành chính là nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính được bố trí tại trụ sở cơ quan, đơn vị nơi làm việc của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ người vi phạm hành chính. Trường hợp không có nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính thì tạm giữ tại phòng trực ban hoặc phòng khác tại nơi làm việc, nhưng phải bảo đảm các quy định chung.

Cơ quan có chức năng phòng, chống vi phạm pháp luật mà thường xuyên phải tạm giữ người vi phạm hành chính cần bố trí, thiết kế, xây dựng nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính riêng, trong đó cần có nơi tạm giữ riêng cho người chưa thành niên, phụ nữ hoặc người nước ngoài và phải có cán bộ chuyên trách quản lý, bảo vệ.

Đối với tàu bay, tàu biển, tàu hỏa khi đã rời sân bay, bến cảng, nhà ga thì tùy theo điều kiện và đối tượng vi phạm cụ thể, người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu quyết định nơi tạm giữ và phân công người thực hiện việc tạm giữ.

Nghiêm cấm việc giữ người vi phạm hành chính trong các phòng tạm giữ, phòng tạm giam hình sự hoặc những nơi không bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người bị tạm giữ.

Phải thông báo cho gia đình người bị tạm giữ

Theo yêu cầu của người bị tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải thông báo cho gia đình, tổ chức nơi làm việc hoặc học tập của họ biết. Trong trường hợp tạm giữ người chưa thành niên vi phạm hành chính vào ban đêm hoặc giữ trên 06 giờ, thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo ngay cho cha mẹ hoặc người giám hộ của họ biết.

Những người sau đây có quyền quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính:

– Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, Trưởng Công an phường;

– Trưởng Công an cấp huyện;

– Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát trật tự, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, Trưởng phòng Cảnh sát đường thủy, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh của Công an cấp tỉnh; Trưởng phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường;

– Thủ trưởng đơn vị cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên, Trạm trưởng Trạm công an cửa khẩu;

– Hạt trưởng Hạt kiểm lâm, Đội trưởng Đội kiểm lâm cơ động;

– Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Đội trưởng Đội kiểm soát thuộc Cục Hải quan, Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu và Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển thuộc Cục điều tra chống buôn lậu Tổng cục hải quan;

– Đội trưởng Đội quản lý thị trường;

– Chỉ huy trưởng Tiểu khu biên phòng, Chỉ huy trưởng biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng, Chỉ huy trưởng Hải đội biên phòng, Trưởng đồn biên phòng và Thủ trưởng đơn vị bộ đội biên phòng đóng ở biên giới, hải đảo;

– Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển, Hải đoàn trưởng Hải đoàn Cảnh sát biển, Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển;

– Người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu khi tàu bay, tàu biển, tàu hỏa đã rời sân bay, bến cảng, nhà ga;

– Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

Người có thẩm quyền tạm giữ người quy định tại các điểm từ a đến i khoản 1 Điều này có thể giao quyền cho cấp phó. Việc giao quyền chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được giao quyền. Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền cho bất kì cá nhân nào khác.

Đ.LIÊN

theo phapluattp.vn

  • About khaimo

    Trả lời

    Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.