Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, lần đầu tiên quy định trực tiếp trong luật 10 hành vi bị xác định là trốn thuế, thay vì để các nghị định dưới luật điều chỉnh như trước đây.
- Thuê xe sang làm vỏ bọc, thanh niên 24 tuổi tại Đà Nẵng lừa người yêu hơn 1,4 tỉ đồng
- Vô Tranh tổ chức trình diễn áo dài dân tộc trong chương trình dấu ấn xứ trà
- Người chịu được nỗi khổ “tâm chí” mới làm thành được việc lớn
Trước khi luật mới có hiệu lực, Luật Quản lý thuế năm 2019 chủ yếu chỉ quy định nguyên tắc xử lý, còn danh sách hành vi cụ thể bị coi là trốn thuế nằm rải rác ở các nghị định xử phạt hành chính. Cách làm đó tạo ra vùng mờ pháp lý và dễ dẫn đến áp dụng không thống nhất giữa các địa phương.
Theo khoản 4 Điều 45 Luật số 108/2025/QH15, trốn thuế được định nghĩa là việc người nộp thuế cố ý thực hiện các thủ đoạn nhằm làm thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm hoặc hoàn thuế. Yếu tố “cố ý” là điểm phân biệt giữa trốn thuế và sai sót thủ tục thông thường.
10 hành vi được luật liệt kê gồm: không nộp hồ sơ đăng ký hoặc khai thuế, hoặc nộp chậm quá 90 ngày dẫn đến thiếu thuế; không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; không lập hóa đơn khi bán hàng hoặc ghi giá trị trên hóa đơn thấp hơn thanh toán thực tế; sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa dịch vụ mua vào, làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được miễn, giảm, hoàn.
Luật cũng xác định là trốn thuế đối với việc sử dụng chứng từ không phản ánh đúng bản chất giao dịch để xác định sai số thuế; khai sai hàng hóa xuất nhập khẩu mà không tự nguyện nộp đủ số thuế; cố ý không kê khai hoặc khai sai thuế xuất nhập khẩu; cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu nhằm trốn thuế; sử dụng hàng miễn thuế sai mục đích mà không khai báo chuyển đổi; và kinh doanh trong thời gian đã thông báo tạm ngừng hoạt động mà không báo cáo cơ quan thuế.
Người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế mà chỉ bị xử phạt về vi phạm thủ tục thuế trong một số trường hợp, như không nộp hồ sơ đăng ký thuế hoặc hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số thuế phải nộp, hoặc có phát sinh nghĩa vụ thuế nhưng đã nộp đủ thuế và tiền chậm nộp trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra.
Về chế tài, mức phạt hành chính dao động từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn; riêng hành vi trốn thuế không phân biệt mức phạt giữa tổ chức và cá nhân. Trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cá nhân có thể bị phạt tiền lên đến 4,5 tỷ đồng hoặc phạt tù lên đến 7 năm, còn pháp nhân thương mại có thể bị phạt tiền lên đến 10 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động hoặc cấm kinh doanh trong một số lĩnh vực.
Chuyên gia kinh tế Đinh Trọng Thịnh nhận định, việc quy định cụ thể 10 hành vi bị coi là trốn thuế giúp tạo ra khuôn khổ pháp lý rõ ràng và minh bạch hơn trong công tác quản lý thuế. “Trước đây, một số hành vi có thể gây tranh cãi trong quá trình xác định vi phạm, nhưng khi được luật hóa chi tiết, cả cơ quan thuế và người nộp thuế đều có chung căn cứ để thực hiện và giám sát” — ông Thịnh nói.
Luật cũng là căn cứ để thực hiện truy thu thuế, xử phạt vi phạm hành chính hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra khi có dấu hiệu tội trốn thuế theo quy định hình sự. Khoảng cách giữa “vi phạm thủ tục” và “trốn thuế” nay không còn do cơ quan thuế tự diễn giải — nó đã được luật xác định thành danh sách.
Vũ Hiếu (tổng hợp)
