Bên quốc lộ thuộc xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc (cũ), nay là xã Tam Hồng, tỉnh Phú Thọ, bà Lê Thị Minh Khuyên ngồi lọt thỏm giữa những xấp vải và chiếc máy khâu gắn bó gần như cả đời người. Ở tuổi ngoài 50, người ta vẫn nhắc về bà với danh xưng “hoa khôi” mà dân làng từng đặt cho từ thời thiếu nữ. Nhưng nếu nhìn kỹ vào khuôn mặt từng trắng trẻo, hồng hào ấy, ít ai biết bà đã trải qua một thời kỳ mà bà tự mô tả là “bệnh tật hành hạ thân thể mình “, khiến bà không thể làm ăn được gì và trở thành gánh nặng cho người thân. Từ một cơ thể rệu rã tưởng chừng không lối thoát, điều gì đã đưa người phụ nữ ấy trở về được với sự bình thản của hiện tại, đó là câu chuyện trải dài qua hơn một thập kỷ sóng gió.
Những năm tháng máu và mốc bên khung cửa quốc lộ
Mọi biến cố bắt đầu từ năm 2008 với chứng xoang nặng. Bà Khuyên kể lại một chu kỳ lặp đi lặp lại đúng 17 tiếng đồng hồ: trong mũi bà phát ra một tiếng “tách” như mạch máu bị vỡ, rồi máu phun ra thành tia như tiết gà. Suốt thời gian đó, vật bất ly thân của bà là những cuộn giấy vệ sinh lớn để nhét chặt vào mũi. Đêm đêm, máu chảy ngược xuống họng, bà nuốt xuống trong vô thức khiến sáng hôm sau đi ngoài ra chất thải đen đặc như tiết chín.
Đỉnh điểm là một buổi chiều thứ Hai, khi máu chảy không cách nào cầm lại được, bà phải thuê taxi đi Hà Nội cấp cứu. Người lái xe khi đó vô cùng hoảng sợ vì thấy máu chảy lênh láng trên mặt khách, cầm lái mà run rẩy vì chỉ sợ bà chết ngay trên xe mình. Đêm hôm đó tại bệnh viện, giữa lúc trời mưa sầm sập và sấm thét kinh khủng, bà cần được tiếp máu khẩn cấp. Cô cháu gái đi nuôi bệnh phải xắn quần quá gối, lội qua dòng nước ngập trong sân bệnh viện, vừa chạy vừa ôm bịch máu vừa khóc nức nở. Trong cơn chập chờn, bà chỉ kịp thấy bác sĩ gây mê vỗ nhẹ vào tay mình hỏi quê quán rồi hoàn toàn lịm đi.
Bệnh tật bắt đầu tấn công trực tiếp vào nghề may, nguồn sống và niềm đam mê của bà từ năm 8 tuổi. Với một thợ may, việc hoàn thiện một chiếc áo “tân thời” đòi hỏi sự tỉ mỉ, phải ngồi để “nhỉ” từng mũi kim một. Nhưng chứng thoái hóa đốt sống cổ và lưng khiến bà không thể cúi xuống lâu. Cứ may được một đoạn, cổ bà lại nhức buốt, đôi tay đau mỏi không thể cử động bình thường, buộc bà phải dừng lại nghỉ liên tục. “Tôi không bao giờ may xong được một cái áo tân thời mà không phải nghỉ”, bà nhớ lại sự bất lực của đôi tay mình lúc đó.

Sự suy sụp còn len lỏi vào những góc kín đáo nhất trong sinh hoạt vợ chồng. Bà kể lại nỗi xấu hổ về những chiếc gối nằm, khi chứng trào ngược dạ dày khiến nước dãi chảy tràn trong lúc ngủ, làm mốc xanh mốc đỏ hết lớp vỏ gối này đến lớp vỏ gối khác. Để che giấu, bà dùng một chiếc khăn bông thật dày trải lên gối để thấm hút, rồi sáng sớm tinh mơ, khi chồng chưa thức giấc, đã vội vã đem chiếc khăn ấy đi giặt sạch. Đêm đêm, bà không thể nằm ngửa vì đau xương khớp mà phải nằm sấp, đôi chân ngứa đến mức phải lật chăn lên từ chân đến gối để hở ra ngoài vì hễ chạm vào hơi ấm là da thịt lại ngứa ran không chịu nổi.
Diện mạo của người từng là “hoa khôi” làng cũng biến dạng một cách khắc nghiệt. Khuôn mặt bà sưng húp, nổi nốt đỏ như hạt đỗ xanh rồi chuyển sang màu chì xám xịt như than. Chân bà ngứa đến mức mỗi lần gãi là da bong ra kết lại sần sùi như “mê cơm cháy”, còn gân xanh sùi lên như những “con sâu róm” bám vào da thịt. Có lần, một người quen trong xóm ghé qua, nhìn mặt bà rồi nói mỉa: “Khuyên ơi, người ta bảo da mày đợt này đẹp lắm”. Câu nói ngược ấy khiến bà đau lòng đến mức suốt một thời gian dài không dám đi ăn cưới trong làng vì không thể đối diện với khuôn mặt của chính mình trong gương.
Khi chứng tiền đình ập đến theo tuần, nhà cửa quay lô quay lốc, bà phải nằm im trong bóng tối, không thể mở mắt và chỉ có thể lần mò nhắn tin nhờ cháu gái mua thuốc. Mọi sinh hoạt trong nhà dồn hết lên vai hai đứa con trai, một đứa chuẩn bị đi nghĩa vụ, một đứa mới học lớp sáu phải thay mẹ đi chợ, nấu cơm và giặt giũ. Sự kiệt quệ về thể xác đã biến người mẹ vốn nghiêm khắc trở nên nóng nảy và dữ dằn, mỗi khi các con làm sai thường thét, gầm gào và dùng đòn roi khiến chúng vô cùng khiếp sợ. Đứa con trai cả sau này nhắc lại sự nghiêm khắc ấy bằng một câu: “Con lạy mẹ, mẹ thét em, bố con cũng phải sợ”.
Trong căn nhà bên quốc lộ, tiếng máy khâu đôi khi vẫn lạch cạch vang lên giữa những cơn đau, nhưng sự rạn nứt trong gia đình bắt đầu lớn dần thêm khi kinh tế túng quẫn buộc cả nhà phải xoay sang một nghề mới, vất vả và bụi bặm hơn nhiều.
Giông bão dưới mái nhà nghề phế liệu
Đó là những năm tháng chồng bà Khuyên rơi vào cảnh không có việc làm ổn định. Để xoay xở kinh tế cho gia đình bốn miệng ăn, ông quyết định tận dụng khoảng sân trước nhà làm bãi tập kết sắt vụn, nhôm nhựa. Bà Khuyên, người vốn chỉ quen với cây kim sợi chỉ từ năm 8 tuổi, nhìn những đống đồ hoen gỉ chất chồng mà lòng đầy ái ngại. Bà từng ra điều kiện với chồng: “Em không làm vất vả được, từ nhỏ đến giờ em không có làm nặng. Nếu có làm thì em chỉ đứng cân kéo mua bán thôi, còn lại em phải trông nom dạy bảo các con”.

Nhưng thực tế công việc không cho phép bà chỉ đứng ngoài quan sát. Dù không trực tiếp bốc vác, bà vẫn phải sát sao công nhân và trực tiếp cầm nắm, kiểm tra những khối phế liệu bám đầy bụi bẩn. Chính môi trường này khiến những nốt ngứa trên tay và chân bà nổi lên dày đặc hơn, những đường gân sùi lên như “con sâu róm” lan rộng khắp các vùng da tiếp xúc với bụi sắt, mồ hôi chảy đến đâu là cơn ngứa hành hạ đến đó. Làn da chân bà lúc ấy kết lại sần sùi, thô ráp như “bãi mê cơm cháy”. Sự mệt mỏi của thân thể cộng với cái nóng hầm hập từ bãi sắt vụn khiến bà tự nhận mình khi đó rất “tợn”, ghê gớm và thường xuyên “sinh cáu bẳn”.
Xung đột gia đình bắt đầu nảy sinh ngay trên bàn cân phế liệu. Là người trực tiếp định giá mua bán, bà Khuyên thường xuyên đối mặt với sự không hài lòng của chồng. Mỗi khi khách hàng ép giá hoặc cuộc giao dịch không thuận lợi, ông không giữ được bình tĩnh và trút mọi bực dọc lên vợ. Ở phía ngược lại, bà cũng không phải người cam chịu, thừa nhận mình lúc đó rất nóng tính, sẵn sàng cãi vã và bộc lộ sự coi thường chồng ngay trước mặt người khác. Những trận lôi đình thường xuyên diễn ra sau khi chồng bà uống rượu.
Một đêm, sự căng thẳng leo thang thành một cuộc rượt đuổi kinh hoàng. Khi thấy chồng say xỉn lao về phía mình, bà hoảng sợ bỏ chạy. Trong cơn mất kiểm soát, người chồng lao mạnh vào cửa kính khiến những mảnh kính vỡ vụn bắn tung tóe, một mảnh sắc lẹm găm thẳng vào cánh tay bà, máu chảy lênh láng hòa lẫn tiếng la hét trong đêm. Vết sẹo nhỏ vẫn còn lờ mờ trên tay bà hiện nay chính là chứng tích của mảnh kính vỡ đêm đó. Sự dữ dằn ấy không chỉ dành cho chồng mà còn bao trùm lên cả những người thân khác. Mẹ chồng bà, dù sống chung một mái nhà, luôn giữ kẽ vì ngại va chạm với con dâu, từng tâm sự với người thân rằng bà “sợ cái Khuyên lắm”.
Với hai đứa con trai, bà áp dụng một kỷ luật thép đầy khắc nghiệt, tin rằng mình phải theo sát để con không bị cuốn vào xã hội “bại hoại”, nhưng cách thực hiện lại là “thét, đánh, gầm, gào” mỗi khi các con phạm lỗi. Bà nhớ lại: “Có những cái lần mà tôi mắng con á, tôi còn chưa đánh nó mà nó đã té cái đái ra quần rồi đấy”. Đỉnh điểm của sự khắc nghiệt ấy là lần đứa con trai cả lấy trộm tiền của mẹ để đi chơi điện tử. Trong cơn thịnh nộ, bà mắng nhiếc và đánh con, còn người chồng, khác với những lần thường đứng ra can ngăn vợ, lần này cũng cầm một chiếc “săng tia” (dây curoa) lao vào đánh con lấy được.
Đứa trẻ khiếp sợ đã vứt lại tất cả, bỏ chạy khỏi nhà giữa đêm tối. Suốt ba ngày con mất tích, bà dù lòng như lửa đốt nhưng vẫn giữ vẻ cứng rắn, không đi tìm mà chỉ lặng lẽ điện thoại hỏi thăm bạn bè của con. Phải đến ngày thứ ba, khi đứa trẻ lầm lũi trở về, hai vợ chồng mới bắt đầu thấy hối hận vì sự nóng nảy thiếu lý trí của mình. Giữa những cơn giông bão về tâm tính, gánh nặng kinh tế còn bị bồi thêm bởi một lựa chọn tâm linh đầy tốn kém. Từ năm 2008, khi bệnh xoang bắt đầu hành hạ, nghe theo lời thầy bói, vợ chồng bà quyết định “mở phủ” để cầu an.
Vì “nghèo lắm”, gia đình phải đi vay lãi với mức lãi suất “gần ba phân” để có tiền hầu đồng, lễ bái. Suốt từ năm 2008 đến năm 2014, bao nhiêu tiền bạc làm ra từ nghề phế liệu đều đổ sạch vào việc cúng cầu nhưng bệnh tật của bà không hề thuyên giảm, nợ nần thì chồng chất. Cái kết tàn khốc nhất ập xuống vào năm 2014, khi chồng bà đột ngột qua đời, để lại cho bà một gánh nặng nợ nần và một thân thể rệu rã. Sau 49 ngày của chồng, bà quyết định hạ hết bát hương thờ phủ xuống, và trong cơn bế tắc cùng cực, người phụ nữ góa bụa bắt đầu tìm đến chùa, mặc chiếc áo nâu sòng để tụng kinh thuê cho những gia đình có người mất.
Hành trình hồi sinh giữa mịt mù dòng đời
Thế nhưng, sau một năm ròng rã lên chùa, thân thể vẫn đau nhức, tinh thần vẫn nặng nề, bà thấy mình như đang “mịt mù giữa dòng sông, giữa biển đời”, không biết đâu là bến bờ để về. Trong sự bế tắc ấy, bà chọn cách trở về với ban thờ tại gia, dâng hoa quả và chỉ khấn đúng hai điều: xin cho mình gặp được Phật Pháp để thực hành và xin cho người âm nhà mình sớm được siêu thoát. Lời khẩn cầu ấy kéo dài bền bỉ suốt 4 năm, cho đến một buổi sáng năm 2018, từ một cuộc điện thoại của người bác: “Khuyên ơi mở tivi ra mà xem hoa Ưu Đàm nở trên quê hương”.
Bà kể lại, khoảnh khắc cầm cuốn sách Chuyển Pháp Luân trên tay, bà đã reo lên và nhảy múa giữa căn nhà vắng vì một niềm vui khó tả. Bà ví mình lúc đó giống như nhân vật Tôn Ngộ Không khi nghe sư tổ giảng đạo, cứ hoa chân múa tay đầy phấn khích, đến nỗi phải tự trấn tĩnh vì sợ người đi đường ngoài quốc lộ nhìn thấy sẽ tưởng mình bị “thần kinh”. Từ đó, cuộc sống của bà bắt đầu bước sang một nhịp điệu hoàn toàn khác.
Từ sau năm 2018, đời sống của bà xoay quanh một nhịp điệu mới mà những người xung quanh có thể cảm nhận rõ rệt. Bà duy trì thói quen thức dậy từ 4 giờ sáng để luyện công, sau đó mới bắt tay vào việc máy khâu. Buổi tối, thay vì quẩn quanh với những lo âu nợ nần hay bệnh tật, bà dành thời gian đọc sách để học cách “Chân, Thiện, Nhẫn” trong từng việc nhỏ. Sự thay đổi diện mạo của bà diễn ra từ tốn nhưng lại trở thành chủ đề bàn tán của hàng xóm. Bà kể lại, làn da khuôn mặt vốn mang màu chì đen đúa bỗng chuyển dần sang màu nâu như quả hồng xiêm, khiến người anh họ hàng xóm đi ngang phải hỏi: “Thím đi tắm nắng à?”, còn người khác lại thắc mắc: “Cô Khuyên đắp mặt nạ nghệ à?”. Sau một năm, sắc diện bà sáng dần lên, các vết tàn nhang và đồi mồi mờ hẳn. Theo lời kể của gia đình, anh con trai cả ghi nhận rằng suốt hơn 8 năm qua, mẹ mình không phải dùng đến một viên thuốc nào, một thay đổi hoàn toàn so với hình ảnh người mẹ hay ốm đau, cần con về nắn bóp, mua thuốc trước đây.

Tâm tính của bà cũng trải qua những phép thử thực tế. Bà thừa nhận trước đây mình rất nóng nảy, hay cãi mẹ đẻ “như chém chả” bất kể đúng sai, nhưng giờ đây bà trở nên lễ phép và biết lắng nghe hơn. Một phép thử lớn xuất hiện vào năm 2020, khi người em chồng là chú Dũng gặp khó khăn, bà đã chủ động bán số vàng tích góp của mình để cho em vay 10 triệu đồng. Chú Dũng sau đó nói với gia đình: “May quá nhà mình vẫn còn chị Khuyên biết Pháp chứ không như những người khác thì chết”. Ngay cả mẹ chồng bà, người từng thú nhận “sợ cái Khuyên lắm”, nay cũng khóc vì cảm động và nói với con dâu: “Mẹ con mình may quá, mẹ có con là người tu luyện, con hiểu và thông cảm cho mẹ hơn”.
Mối quan hệ đầy vết rạn với người chị gái cả, người từng phản đối gay gắt và bỏ mặc bà nhiều năm, được hóa giải âm thầm vào năm 2023. Khi chị phải mổ đĩa đệm tại Hà Nội, bà khăn gói xuống chăm sóc suốt 20 ngày, không tranh luận, không dùng lời lẽ đao to búa lớn mà chỉ thể hiện bằng sự chăm chút tỉ mỉ từ bữa ăn đến giấc ngủ. Ngày chị sắp ra viện, người chị bật khóc và thú nhận bao nhiêu năm qua đã hận và hiểu lầm em gái. Theo lời bà kể, người chị vốn không thể đứng dậy sau phẫu thuật, bỗng có thể tự đi lại được ngay ngày hôm sau khi tâm tư được giải tỏa, kinh ngạc thốt lên: “Cứ như là thần Phật bảo hộ chị á”. Sau đó, chị kể lại lời bác sĩ điều trị rằng ở tuổi 70, sự hồi phục vết thương sau mổ đĩa đệm ngoạn mục như vậy là trường hợp hiếm thấy.
Sự chỉn chu của người thợ may còn lan sang cả góc máy khâu sát quốc lộ. Có lần, sau khi may xong một chiếc áo co giãn cho khách, bà đặt trên mặt bàn thấy phẳng nhưng khi mặc lên người khách lại thấy vạt áo hơi bị bay một tí. Dù khách bảo không sao, bà vẫn khăng khăng xin tháo ra làm lại: “Người ta mặc lên, người ta sẽ cười người làm máy khâu chứ không cười cô. Làm sao mắt cháu thuận thì khách mới thuận”. Thái độ này khác hẳn với việc tìm lý do né tránh sửa đồ của chính bà trước kia, và giờ đây căn phòng máy khâu ấy luôn vang lên những bản nhạc thiền, nhạc Phổ Độ êm dịu, xen giữa luống rau lang, mồng tơi và cây đỗ đũa mà bà chăm chút mỗi chiều.
Thong dong bên khung cửa đời thường
Căn nhà sát mặt đường giờ đây không còn là nơi của những tiếng thét khiến con trẻ khiếp đảm hay không khí “áp lực buồn” và “không có tiếng cười” như trước. Sự thay đổi rõ rệt nhất mà các con bà Khuyên ghi nhận được chính là sự vắng bóng hoàn toàn của các loại thuốc trong nhà.

Anh con trai cả, người hiện đang làm chủ bốn phòng tập yoga tại Vĩnh Phúc, thường bảo với mẹ: “Hơn 8 năm nay rồi mẹ không phải dùng một viên thuốc nào, mẹ cho các con sức khỏe như vậy là các con rất mừng rồi”. Anh vẫn nhớ những ngày trước, hễ mẹ đau đầu, mỏi cổ là anh phải chạy về nắn bóp, đi mua thuốc hộ, còn nay bà có thể tự làm mọi việc với một thân thể mà bà mô tả là “nhẹ nhàng, chả bao giờ mệt mỏi”.
Sự thay đổi tâm tính của bà không chỉ là lời bà tự nhận, mà còn hiện lên qua những lời bàn tán, nhận xét của xóm giềng. Bà kể, những người xung quanh và anh em hàng xóm thường nói với nhau: “Ôi từ ngày cái thím Khuyên học Pháp Luân Công mà tính nết thím thay đổi quá, thích quá, sống rõ hòa nhã chả có điều tiếng gì cả”. Những tiếng quát tháo “gầm gào” ngày xưa đã được thay thế bằng những cuộc trò chuyện bình hòa hơn nhiều.
Những người quan sát kỹ nhất sự thay đổi của bà chính là những vị khách đến may đồ, giờ đây thường truyền tai nhau về sự tận tâm của bà, đối lập hẳn với thói quen “né tránh vì sợ mất thời gian” trước kia. Có lần, một người em xuống may quần áo tình cờ quan sát thấy bà đi làm trang điểm cho khách mà cứ vứt điện thoại ở một chỗ, cả buổi không có lấy một cuộc gọi hay tin nhắn kiểm tra nào. Người em đó thốt lên: “Chồng chết nhưng mà cũng chẳng bồ bịch gì cả, điện thoại đi làm ném quăng đấy chẳng có ai gọi”. Chi tiết nhỏ này đã dập tắt những lời dèm pha của hàng xóm về việc bà “đi bước nữa” hay “cần có bạn nọ bạn kia” sau khi chồng mất.
Trong căn nhà ấy, niềm vui hiện tại được neo giữ bằng những khoảnh khắc gia đình sum vầy. Anh con trai cả sau mỗi lần về thăm nhà, ăn cơm xong thường nằm kềnh ra sàn nhà, nói vui với vợ con: “Bao giờ mà cứ xong hết nhiệm vụ là đi theo Sư phụ”. Đứa con trai thứ hai, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về, cũng thường xuyên nói với mẹ: “Mẹ ơi nhà mình may quá nhỉ, mẹ con mình biết đến Pháp”. Giữa những câu chuyện của các con, bà mỉm cười nhìn đứa cháu nội hơn 3 tuổi khỏe mạnh đang chạy nhảy quanh chân mình, không còn lo lắng hay “chấp trước” vào việc đối nội đối ngoại, mà tin tưởng giao phó việc lớn nhỏ trong gia đình cho người em chồng gánh vác, còn mình chỉ làm tròn bổn phận của một người con dâu.
Hằng ngày, sau những giờ ngồi bên máy khâu sát mặt đường nhộn nhịp, bà lại dành thời gian cho mảnh vườn nhỏ mượn của hàng xóm, một bãi đất trống mùa nào rau nấy, từ rau lang ăn không hết phải cắt đem cho bạn bè, đến vài khóm rau bí, mồng tơi, đỗ đũa và rau cải. Mỗi sáng sớm, bà ra ngắm những ngọn rau vươn lên sau một đêm, rồi đến chiều sẩm tối lại xách vòi ra tưới nước, dọn cỏ, mang theo chiếc đài nhỏ mở nhạc Phổ Độ êm dịu hòa lẫn tiếng xì xào của lá cây và tiếng xe cộ nườm nượp ngoài quốc lộ.

Người thợ may già giờ đây không còn mải mê “làm cho xong để lấy tiền”. Bà cứ bình thản ngồi đó, bên góc máy khâu đã gắn bó mấy chục năm, tỉ mẩn với từng đường kim mũi chỉ cho khách. Đôi lúc dừng tay, bà nhìn ra dòng người đang bôn ba ngoài kia, rồi lại lặng lẽ quay vào chăm chút cho luống rau, cho những bộ trang phục còn dang dở, sống một cuộc đời giản đơn giữa căn nhà luôn vang tiếng nhạc thiền và tiếng cười của con trẻ, khép lại một hành trình dài từ máu, mốc và giông bão đến sự thong dong của ngày hôm nay.
Xem thêm:
- Phía sau cánh cửa của người đàn bà “ba bát gạo”
- Phạm Ngọc Lai: người lính “thép” và hành trình tìm lại bình yên sau những cơn bão đời
- Nguyễn Văn Chiến: Từ “Chiến lớp C1” ngổ ngược đến người đàn ông tĩnh tại sau quầy Tinh Hoa
