Ung thư phổi di căn xảy ra khi tế bào ung thư tách khỏi khối u ban đầu, lan qua đường máu hoặc hệ bạch huyết đến các cơ quan xa, với tỷ lệ sống sót sau 5 năm chỉ ở mức 6,3% theo Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (NCI).
- Hưng Yên: Người chồng đầu thú sau vụ đâm kiếm khiến em vợ tử vong
- Nữ tài xế ở Hà Tĩnh bị phạt vì nhiều lần đỗ xe chắn ngõ
- Khoa học xác nhận gừng tấn công tế bào ung thư theo ba bước liên tiếp
Khoảng 40% ca ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) — loại phổ biến nhất — được chẩn đoán ở giai đoạn 4, tức là khi bệnh đã di căn. Các vị trí thường bị ảnh hưởng nhất gồm hạch bạch huyết, xương, não, gan và tuyến thượng thận; ít gặp hơn là dạ dày, tuyến tụy, mắt, da và thận.
Hạch bạch huyết là nơi ung thư phổi lan đến đầu tiên, thường bắt đầu từ các hạch trong phổi hoặc gần đường dẫn khí chính. Giai đoạn này thường không gây triệu chứng, nhưng khi ung thư lan đến hạch xa hơn, người bệnh có thể sờ thấy khối cứng ở cổ hoặc nách.
Di căn xương — đặc biệt ở cột sống, khung chậu và xương đùi — là một trong những biến chứng nặng hơn của NSCLC. Triệu chứng bắt đầu bằng cảm giác đau âm ỉ giống đau cơ, sau đó có thể dẫn đến gãy xương, tăng canxi máu hoặc chèn ép tủy sống; mục tiêu điều trị ở giai đoạn này là giảm đau và hạn chế gãy xương chứ không phải chữa khỏi.
Ung thư phổi cũng là nguyên nhân phổ biến nhất gây di căn não theo Hội Ung thư Phổi Mỹ. Nhiều người không có triệu chứng rõ, trong khi số khác xuất hiện đau đầu, co giật, lú lẫn hoặc yếu liệt một bên cơ thể — điều trị chủ yếu nhằm kiểm soát triệu chứng qua xạ trị, thuốc chống co giật hoặc phẫu thuật khi di căn còn ít.
Di căn gan gặp ở 30–50% bệnh nhân giai đoạn tiến triển, biểu hiện bằng mất cảm giác thèm ăn, sụt cân, vàng da và mệt mỏi. Di căn tuyến thượng thận — cơ quan sản sinh hormone nằm trên đỉnh thận — lại thường không gây triệu chứng và được xử lý bằng hóa trị hoặc phẫu thuật kết hợp cắt u phổi.
Hầu hết các trường hợp ung thư phổi di căn không thể chữa khỏi và tiên lượng xấu; NCI ghi nhận tỷ lệ sống sót sau 5 năm chỉ đạt 6,3%.
Đỗ Vân (tổng hợp)
