Hormuz sau chiến tranh: eo biển mở có thể đã biến mất vĩnh viễn

Hải Phòng, 18/7 – Chiến sự Iran tái bùng phát đã đẩy eo biển Hormuz vào vòng phong tỏa lần hai, trong khi các chuyên gia cảnh báo cơ chế hàng hải tự do tại đây khó có thể phục hồi như trước.

Giá dầu Brent và WTI ngày 17/7 tiếp tục tăng hơn 2%, lần lượt đạt 86,02 và 80,78 USD/thùng, phản ánh trực tiếp tình trạng bất ổn đang leo thang. Ngày cùng ngày, CNN đưa tin Iran tấn công Qatar, Kuwait và Jordan, đồng thời tuyên bố tập kích các cơ sở quân sự Mỹ tại Bahrain, Oman và Syria; phía Mỹ đáp trả bằng các đợt không kích vào miền nam Iran, trong đó một số cây cầu kết nối với thành phố ven biển Bandar Abbas trên eo biển Hormuz bị phá hủy.

Bản ghi nhớ giữa Mỹ và Iran ký cuối tháng 6 đã không giải quyết được điểm mấu chốt: ai kiểm soát Hormuz. Hai bên đồng ý ngừng phong tỏa và ngừng nổ súng, nhưng lập trường không thay đổi. Tehran xem sự mơ hồ trong văn bản là sự công nhận ngầm quyền lực của Iran trên tuyến hàng hải này, còn Washington và các quốc gia vùng Vịnh thì bác bỏ cách hiểu đó.

Trong những tuần tiếp theo, các tàu tiếp tục dùng tuyến phía nam Oman do Mỹ hỗ trợ, bỏ qua hành lang phía bắc do Iran kiểm soát. Các tài sản Iran bị đóng băng – mà Tehran hiểu là một phần cam kết của thỏa thuận – không được giải tỏa. Iran kết luận họ đã tôn trọng thỏa thuận nhưng không nhận lại điều gì, và từ tuần trước bắt đầu tấn công tàu đi qua tuyến Oman.

Mỹ phản ứng bằng cách đình chỉ việc rút lệnh trừng phạt dầu mỏ Iran, sau đó tiến hành không kích với quy mô ngày càng tăng, và Tổng thống Donald Trump ra lệnh tái phong tỏa các cảng biển Iran. Trước khi chiến sự tái bùng phát, lưu lượng tàu chở dầu qua Hormuz đã phục hồi tương đương khoảng 25% so với mức trước ngày 28/02; trong 48 giờ sau khi xung đột nổ lại, con số đó giảm xuống dưới 15%.

TS Ian Bremmer, Chủ tịch Eurasia Group, đơn vị tư vấn rủi ro chính trị hàng đầu thế giới, phân tích trong tài liệu gửi đến Thanh Niên rằng Iran không cần phong tỏa hoàn toàn mới đủ khiến Hormuz tê liệt. “Tehran chỉ cần cảnh báo việc di chuyển qua Hormuz là nguy hiểm thì đủ khiến cho các thủy thủ đoàn bất động và các công ty bảo hiểm giải trừ trách nhiệm thì eo biển ngưng trệ”, ông nhận định. Iran hiện có đủ tên lửa chống hạm và máy bay không người lái để duy trì áp lực đó lâu dài, ngay cả trong điều kiện bị Mỹ tập kích liên tục.

Điều Tehran thực sự theo đuổi, theo TS Bremmer, không phải là tài sản bị đóng băng hay nới lỏng trừng phạt, mà là quyền kiểm soát được thể chế hóa đối với Hormuz – tương tự vai trò của Thổ Nhĩ Kỳ ở Dardanelles hay Malaysia và Singapore ở Malacca. Theo cấu trúc đó, một quỹ tập thể do các quốc gia vùng Vịnh chi trả sẽ chính thức hóa vai trò quản lý của Iran trên tuyến hàng hải này. Tổng thống Trump gần như sẽ không ký vào thỏa thuận như vậy vì điều đó đồng nghĩa với việc trao “phần thưởng” cho Tehran; còn Tehran lại muốn nhiều hơn một khoản phí danh nghĩa.

TS Bremmer cũng cảnh báo rủi ro leo thang rộng hơn: nếu Mỹ tiếp tục tấn công cơ sở hạ tầng dân sự và năng lượng của Iran, Tehran có thể chỉ đạo lực lượng Houthi tấn công cơ sở năng lượng Ả Rập Xê Út tại Yanbu hoặc đường ống Đông – Tây, thậm chí phong tỏa eo biển Bab al-Mandab, khiến thêm 4–5 triệu thùng dầu mỗi ngày qua vùng biển này bị chặn lại.

Về phía Mỹ, TS Bremmer cho rằng Tổng thống Trump có thể đã chấp nhận kịch bản đảng Cộng hòa chịu tổn thất trong cuộc bầu cử giữa kỳ sắp tới, và ưu tiên di sản cá nhân hơn thế đa số tại Hạ viện. Dự trữ xăng dầu trong nước ở mức cao đang giảm nhẹ áp lực kinh tế lên Mỹ trong ngắn hạn. “Điều này cho phép Tổng thống Trump duy trì chiến dịch tấn công hiện tại trong một thời gian”, ông đánh giá.

“Dù thế nào đi nữa, eo biển Hormuz trước chiến tranh, với cơ chế mở, có lẽ đã biến mất vĩnh viễn. Bất cứ điều gì xuất hiện để thay thế nó sẽ phản ánh sự cân bằng quyền lực mới và gây tranh cãi trong hàng hải. Mỹ không thích điều đó, nhưng họ sẽ không có nhiều lựa chọn ngoài việc chấp nhận”, TS Bremmer kết luận

Vũ Phượng (tổng hợp)