Nước vẫn về, đồng vẫn ngập, nhưng lũ nay không còn là mùa no đủ. Sau hơn một thập kỷ, người dân miền Tây đối diện nghịch cảnh: lũ tràn đồng mà cá tôm vắng, phù sa cạn, đất bạc màu, người trẻ rời quê đi kiếm sống.
- Lừa đảo trực tuyến: Thái Lan bắt 4 nghi phạm trốn từ Campuchia
- “Sự kiện mặt trời bùng nổ: Nguy cơ gián đoạn liên lạc và vệ tinh toàn cầu”
- Tài xế che biển ‘né’ camera AI, Cục CSGT đề xuất tăng nặng mức xử phạt
Ký ức một thời “sống chung với lũ”

Trên cánh đồng xã Nhơn Hòa Lập (huyện Tân Thạnh, Long An cũ), ông Nguyễn Văn Dũng, 52 tuổi, đứng lặng nhìn nước loang giữa nắng chiều. Gia đình ông là một trong số ít hộ còn giữ tập quán “xả đồng đón lũ” giữa vùng đê bao kín mít.
Ông kể, thuở trước, lũ tràn về ngập mái nhà, nhưng dân vẫn vui. Cá linh, cá rô, bông súng, điên điển… theo nước về đầy đồng. Người lớn giăng lưới, trẻ con lội ruộng bắt cá, cả làng sống khỏe suốt ba tháng nước nổi.
Những mùa ấy, ruộng được “tắm” phù sa, đất nghỉ ngơi sau vụ gặt. Lúa trúng mùa, phân thuốc ít, bệnh hại giảm. Người dân sống thuận theo nước, hiểu từng con sóng, từng ngọn gió. “Lũ khi ấy nuôi sống dân mình, chứ không làm khổ ai,” ông Dũng nói, mắt nhìn xa xăm.
Lũ về mà chẳng còn “ngọt”

Từ sau năm 2011, con nước dần đổi khác. Lũ nhỏ, phù sa ít, ruộng khô cằn. Đê bao khép kín khiến nước không còn chỗ trữ, dòng sông nghèo cá tôm.
Ông Dũng giờ chỉ còn hơn một hecta ruộng, trồng thêm mít, nuôi bò để sống. “Từ con cá đến mớ rau, giờ phải ra chợ mua,” ông nói.
Cách đó hơn trăm cây số, anh Trần Vũ Linh (xã Bình Thạnh, Đồng Tháp) mỗi ngày cùng em trai chạy xuồng đi đặt lú. Hơn 100 chiếc lú chỉ được vài con chạch nhỏ, ít tép, cua. “Hồi trước đặt 150 lú, mỗi ngày thu vài chục ký cá. Giờ giảm gấp mười,” Linh buồn bã.
Cha anh – ông Sáu Thạnh – ba đời làm nghề sông nước, nay tính bỏ nghề. “Sông giờ hết cá, chỉ còn nước,” ông nói. Nhiều ngư dân quanh vùng đã rời quê, lên Bình Dương, Long An mưu sinh.
Khi phù sa cạn, đất và người cùng nghèo
Những con đê khép kín làm mất dần không gian trữ nước tự nhiên. Nước lũ không còn về đồng, triều biển dâng lên, tạo vòng ép giữa thượng nguồn và hạ lưu.
Theo chuyên gia sinh thái Nguyễn Hữu Thiện, Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên từng trữ hơn 9–10 tỷ m³ nước mỗi năm. Nay, do đê bao vụ ba, lượng nước chứa chỉ còn một nửa. “Đồng bằng bây giờ như người bị cao huyết áp, mất mạch máu,” ông nói.
Thiếu phù sa, sông trở nên “đói đất”, bờ bồi sạt lở, đất nông nghiệp bạc màu. Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang thường xuyên ngập cục bộ, trong khi vùng ven biển khô hạn. Lũ – vốn điều hòa nước ngọt, mặn, phèn – giờ không còn đủ sức nuôi sống đồng bằng.
Hy vọng từ những mùa nước mới

Ở miền Tây, lũ từng là nhịp sống, là ký ức của bao thế hệ. Giờ đây, nhiều người như ông Dũng vẫn cố giữ mảnh ruộng, giữ con nước trong tâm tưởng. “Tôi chỉ mong có lại một mùa lũ thật sự, để đất thở, cá về, người vui,” ông nói.
Chính quyền các địa phương đang nghiên cứu khôi phục vùng trữ lũ tự nhiên, chuyển đổi sinh kế theo hướng “thuận thiên” – sống hài hòa với nước. Một số nơi đã thí điểm nuôi cá đồng, trồng lúa mùa kết hợp sen, rau nước, cho thu nhập khá.
Miền Tây từng được bồi đắp suốt sáu nghìn năm từ phù sa sông Mê Kông. Hôm nay, phù sa ít đi, nhưng niềm tin của người dân vẫn còn. Họ chờ một mùa lũ mới – không chỉ là nước, mà là mùa trở về của sức sống và bình yên.
Theo VnExpress












