Năm 11 tuổi, bà Nguyễn Thị Mùi mất cha, trở thành lao động chính trong một gia đình sáu miệng ăn giữa vùng quê nghèo khó. Từ đôi vai gầy guộc gánh đất, gánh củi thuê ngoài đồng cho đến khi lập gia đình và tự tay đóng từng viên gạch ba banh dựng nhà, cuộc đời bà là chuỗi ngày dài của đói nghèo, bạo lực gia đình và bệnh tật đeo bám. Nhưng giữa những trận đòn roi, những đêm ngồi bán ngô khoai giữa gió rét và cả ý nghĩ muốn buông xuôi tất cả, điều gì đã khiến người phụ nữ ấy đứng dậy, buông bỏ oán hận và tìm lại được sự bình an sau hơn hai mươi năm sống trong đau khổ.

Câu trả lời nằm trong hành trình gần nửa thế kỷ của bà Mùi, từ gian nhà vách đất tồi tàn đến ngôi nhà khang trang hôm nay.
Tuổi thơ gánh gồng và viên gạch ba banh tự đóng
Năm bà Mùi tròn 11 tuổi, cha bà qua đời, để lại người mẹ gầy gò với năm đứa con thơ dại. Đứa em út khi đó mới gần hai tuổi, còn bà Mùi là chị cả, nghiễm nhiên trở thành lao động chính trong nhà. Bà nhớ lại vóc dáng mình lúc đó “gầy và bé” nhưng trên vai thường xuyên là những hòn đất nặng vác thuê ngoài đồng hay những bó củi gánh từ rừng về để đun nấu.
Mỗi ngày của cô bé 11 tuổi bắt đầu từ lúc trời còn mờ sậm: đi cấy, đi gặt thuê, gánh phân, chăn trâu rồi lại lội xuống đầm mò hến, bắt cua, hái rau đem ra chợ bán lấy tiền đong gạo. Dù làm lụng không ngơi tay, gạo vẫn phải đong từng bữa. Mẹ bà thường xuyên phải đi vay thóc, vay sắn của hàng xóm, chờ đến mùa thu hoạch thì trả cả gốc lẫn lãi.
Sáu mẹ con trú ngụ trong gian nhà vách đất mà bà gọi là “chát bằng chẫy” — kiểu nhà tạm bợ với cột kèo mục ruỗng đến mức nghiêng hẳn sang một bên, chực chờ đổ sập mỗi khi gió bão về. Mái nhà lợp bằng rơm rạ, nên nỗi sợ lớn nhất của sáu mẹ con là những đêm giông bão khi gió tốc tung cả mái, nước mưa giội xuống chẳng khác gì đang đứng giữa sân. Cả nhà phải lấy nồi, thau ra hứng nước khắp gian, còn chiếc giường duy nhất cũng ướt sũng, có đêm cả mấy mẹ con phải ngồi thức trắng vì không còn chỗ nào khô ráo để ngả lưng. Những cơn gió giật kèm mưa to nhiều lần khiến ai nấy đều nghĩ căn nhà sắp đổ sập ngay trong đêm.
Bà cụ thân sinh sau này mỗi khi nhắc về các con đều thốt lên “trong năm đứa, con này là khổ nhất”. Sau khi lập gia đình, do nhà chồng có tới bảy anh em và kinh tế đều khó khăn, tài sản của đôi vợ chồng trẻ chỉ là đôi bàn tay trắng. Để có chỗ ở, hai vợ chồng dắt nhau ra suối xúc cát mang về, tự nhào trộn cát với một ít xi măng, đổ vào khuôn để đóng từng viên gạch ba banh thủ công.

Bà Mùi nhớ rõ nhịp sinh hoạt thời đó: ngày đi làm ruộng, tối lại cặm cụi bên khuôn gạch dưới ánh đèn dầu. Cứ thế, từng viên gạch thấm mồ hôi được tích góp qua nhiều tháng ngày để dựng lên hai gian nhà nhỏ lợp mái fibro xi măng, thay cho gian nhà vách đất dột nát năm xưa.
Năm 1991, đứa con đầu lòng chào đời giữa lúc cái đói bủa vây gắt gao. Bà Mùi kể lại thời điểm năm 1992, trong nhà có lúc không còn hạt gạo nào. Có những buổi đi làm đồng về, nhìn gian bếp trống không, bà phải lén sang vườn hàng xóm hái trộm nắm rau lang đem về nấu với muối cục. Bữa cơm thường nhật của hai vợ chồng là nắm rau luộc hoặc một ít mỡ heo chưng với muối cục thật mặn để ăn được nhiều cơm hơn. Những ngày hiếm hoi dành dụm được vài đồng bạc lẻ, bà mới dám ra chợ mua “thịt má” — phần thịt rẻ tiền nhất — về cải thiện cho con.
Khi chồng chuyển sang làm thợ mộc, bà Mùi vừa cấy mấy sào ruộng, vừa đi bán kem que, vừa đi mua sắt vụn để trang trải cuộc sống. Những rạn nứt bắt đầu lộ diện từ chính gian bếp nghèo. Bà vẫn nhớ như in một buổi trưa đi cấy về muộn, mồ hôi nhễ nhại, thấy chồng vẫn đang ngồi đánh cờ mà chưa nấu cơm. Bà khẽ hỏi “anh chưa nấu cơm à”. Ngay lập tức, người chồng quát tháo rồi xông vào bếp vớ lấy chiếc nồi làm bằng “sắt máy bay” — loại vật dụng bền chắc nhất thời bấy giờ — mang ra sân, dùng vật sắc băm vụn nó thành từng mảnh nát bấy trước mặt vợ và đứa con nhỏ.
“Lúc đó em nhìn mà em không biết nói được lên lời gì, rất là hận, rất là căm”, bà Mùi kể lại. Có những bữa khác, đang lúc cả nhà quây quần, chỉ vì một câu nói không vừa ý, người chồng bê cả mâm cơm hất tung ra sân, mặc kệ ba mẹ con nhịn đói nhìn theo. Những người hàng xóm quanh đó như bà Bích ông Tới, ông Bịu đều chứng kiến cảnh bạo lực này. Bà Bích từng nhận xét thẳng thắn rằng người mang tiếng làm xưởng mộc to như vậy nhưng vợ con chẳng được nhờ cậy gì, có cũng như không.
Xưởng mộc sau đó bắt đầu có khách đặt đóng hòm đựng thóc và đồ gia dụng, kinh tế gia đình có phần khá hơn một chút. Bà Mùi phụ chồng đánh giấy giáp, quét sơn, trong lòng hy vọng sự bận rộn sẽ khiến chồng thay đổi tính nết. Nhưng trớ trêu thay, chính lúc bắt đầu làm ra tiền lại là lúc người chồng bắt đầu có những chuyến đi dài ngày khỏi ngôi nhà gạch ba banh tự đóng.
Bão tố sau cánh cửa và những nhát rìu vào nồi cơm
Xưởng mộc tại gia dần bận rộn hơn khi người dân quanh vùng đặt đóng hòm đựng thóc bằng gỗ dày và các món đồ gia dụng khác. Ngoài việc đồng áng, bà Mùi dành thời gian ở xưởng phụ chồng đánh giấy giáp và quét sơn. Tuy nhiên, nguồn thu từ những đơn hàng này không được dùng để chi tiêu cho gia đình. Bà nhớ lại cảnh nhà nuôi được con lợn béo tốt, đến ngày bán xong, người chồng “cầm hết tiền chẳng cho tôi đồng nào”.
Khi xưởng làm ra tiền, ông bắt đầu công khai các mối quan hệ ngoài luồng. Bà Mùi kể chồng bà đi chơi với bạn gái, hễ làm được đồng tiền là mang đi ăn, đi chơi đủ thứ. Thậm chí đến tận năm 2026, bà xác nhận mối quan hệ giữa chồng và người phụ nữ kia vẫn còn tiếp diễn. Những chuyến đi của người chồng ngày càng xa và tốn kém hơn. Trong khi bà thắt lưng buộc bụng, ông vay tiền ngân hàng để làm ăn, đi du lịch và ăn hàng quán cách nhà mấy chục cây số, có khi ra tận Hải Dương chỉ để ăn uống.
Trong ngôi nhà gạch ba banh, những bữa cơm thường xuyên kết thúc bằng bạo lực. Bà kể có những lần ba mẹ con đang ăn, chỉ vì một câu nói không vừa ý, chồng bà bê hết mâm cơm hất ra ngoài sân, bỏ mặc vợ con nhịn đói. Không dừng lại ở việc đập phá đồ đạc như lần băm nát chiếc nồi sắt máy bay, những trận đòn roi bắt đầu nhắm thẳng vào bà. “Anh đánh tôi rất đau, bóp cổ tôi rồi tát không tiếc tay chảy cả máu mũi”, bà nhớ lại. Những người hàng xóm như bà Bích, ông Tới, ông Bịu thường xuyên chứng kiến cảnh tượng này. Bà Bích từng thẳng thắn bảo rằng không ở được thì bỏ nhau chứ cứ sống như thế thì sớm muộn cũng có ngày mất mạng.

Ranh giới tử sinh và tiếng khóc thầm trong ngân hàng
Sống trong trạng thái ăn không ngon ngủ không yên kéo dài hàng chục năm, cơ thể bà Mùi dần sụp đổ. Để có tiền nuôi con, bà dọn một góc nhỏ nơi vỉa hè ngã ba gần trạm điện ở khu vực Sao Đỏ, nướng từng củ ngô, củ khoai bán cho khách qua đường. Những đêm mùa đông gió bấc thổi rét căm căm, bà ngồi một mình bên bếp than, những lúc không có khách thì ngồi nghĩ uất hận trong lòng, nhìn về ngôi nhà gạch ba banh nơi người chồng đã tuyên bố bà không cần phải nấu cơm hay giặt quần áo cho ông nữa. Trong khi bà nướng từng củ khoai kiếm đồng xu lẻ, chồng bà vẫn miệt mài với những chuyến du lịch, ăn quán cách nhà hàng chục cây số và chẳng bao giờ ra giúp vợ một tay dù trời mưa gió bão bùng.
Khoảng năm 2014 đến 2015, bà Mùi tìm đến tòa án hai lần để hỏi thủ tục ly hôn. Bà nhớ rõ khuôn mặt vị cán bộ tòa án khi lật dở hồ sơ rồi nhìn bà đầy ái ngại, hỏi rằng người ta nợ nhiều như thế thì bà lấy đâu tiền mà bù mà trả. Khi bà gặng hỏi nợ bao nhiêu, câu trả lời là “tiền tỷ”. Số tiền đó do chồng bà vay ngân hàng để làm ăn, đi du lịch và ăn chơi khắp nơi. Khoản nợ khổng lồ treo trên mảnh đất gia đình đã chặn đứng hy vọng ra ở riêng của người đàn bà không có lấy một đồng lận lưng.
Cùng với những uất hận, cơ thể bà héo hon vì những cơn đau tiền đình và thoái hóa cột sống hành hạ khiến bà thường xuyên mất ngủ, kèm theo chứng viêm phù nề dạ dày do uống quá nhiều thuốc. Bà đã đi hết bệnh viện tuyến dưới rồi tuyến trên, tốn hàng triệu đồng cho mỗi lần cắt thuốc nhưng tình trạng vẫn không thuyên giảm. Mỗi lần đi khám, bác sĩ đều thốt lên “sao cô này nhiều bệnh nan giải thế”. Để tìm lối thoát, bà bắt đầu đi lễ rất nhiều chùa và tìm đến thầy bói toán. Một bà thầy bói bảo bà bị “nợ Tam Bảo”, yêu cầu đóng lễ từ một đến hai triệu đồng để cúng cho gia đình bình an. Bà đã làm theo, nộp tiền với hy vọng đổi lấy một chút yên ấm sau hơn chục năm xô xát, nhưng sau những buổi lễ tốn kém, những trận đòn bóp cổ và tát chảy máu mũi vẫn tiếp tục diễn ra.
Có những lúc bế tắc, bà tìm đến mẹ đẻ nói ý định muốn chết cho nó thanh thản. Bà cụ xót xa cho cô con gái khổ nhất trong năm đứa nhưng quyết liệt can ngăn, bảo rằng không việc gì phải tội chết, chết là khổ các con. Nhìn hai đứa con vẫn còn nhỏ thường xuyên phải chứng kiến cảnh bố mẹ xô xát với đôi mắt dư dư nước mắt, bà lại gượng dậy quay về với nhịp sống giữa ngân hàng và vỉa hè.
Để tự tìm sinh kế, qua lời giới thiệu của người em trai, bà Mùi bắt đầu làm hai công việc cùng lúc: ban ngày dọn vệ sinh trong ngân hàng, buổi tối về bán hàng nước vỉa hè. Công việc tại ngân hàng là một trải nghiệm đầy mặc cảm đối với bà. Hằng ngày, bà cầm chổi và giẻ lau len lỏi qua những dãy ghế, âm thầm thu dọn rác thải và lau chùi sàn gạch bóng loáng, trong sự đối lập với vẻ ngoài sang trọng của những khách hàng vào giao dịch. “Lúc nào mắt cũng đỏ hoe, nó khóc âm thầm là sao mà lại cuộc đời mình như vậy. Nhìn thấy người ta sang trọng người ta vào ngân hàng, mình thì suốt ngày lọa bỏ đi dọn vệ sinh”, bà nhớ lại. Mỗi khi thấy bác bảo vệ hay ai đó hỏi han, bà lại vội vàng chùi nước mắt để tiếp tục công việc của mình.
Năm 2019, trong một lần lên nhà em gái chơi để khuây khỏa, bà Mùi ngồi trò chuyện cùng một người hàng xóm tại đó. Nhìn dáng vẻ gầy ốm, da dẻ sạm đi vì mất ngủ miên man của bà, người hàng xóm mở lời khuyên bà đi tập Pháp Luân Công để khỏi bệnh mà không phải uống thuốc. Lúc bấy giờ, bà nghe nhưng trong lòng vẫn đầy hoài nghi về một phương cách lạ lẫm mà người ta bảo không cần dùng đến thuốc cũng có thể khỏe lại. “Lúc đó tôi chưa hiểu Pháp là gì”, bà nhớ lại cảm giác phân vân khi đứng trước lời gợi ý tình cờ ấy, giữa lúc những cơn đau lưng và sự im lặng đáng sợ của người chồng vẫn bủa vây gian nhà gạch ba banh.
Hành trình buông bỏ và sự hồi sinh kỳ diệu
Mang theo những suy nghĩ miên man về lời gợi ý tình cờ ấy, năm 2019, sau một thời gian dài vật vã với đủ loại thuốc Nam, thuốc Bắc và những lần đi viện tốn kém mà bệnh không thuyên giảm, bà Mùi quyết định bước vào tập luyện. Tiến trình thay đổi không diễn ra trong ngày một ngày hai. Bà nhớ lại những ngày đầu, cơ thể vốn héo hon và đầy bệnh tật vẫn thường xuyên đau nhức mỗi khi trái gió trở trời.

Nhưng thay vì tìm đến những gói thuốc hàng triệu đồng như trước, bà kiên trì giữ nhịp tập luyện hằng ngày. Tính đến năm 2026, trải qua mười mấy năm kể từ những ngày bế tắc nhất và 8 năm tu luyện, bà Mùi không còn phải đến bệnh viện hay sử dụng bất kỳ loại thuốc nào nữa. Sự thay đổi này rõ rệt đến mức mẹ đẻ bà đi đâu cũng khoe rằng trước con gái bà lắm bệnh thế mà giờ đi tập không phải uống thuốc, không phải đi viện nữa. Ngay cả những người hàng xóm như bà Bít cũng phải ngạc nhiên khi thấy từ ngày Mùi đi tập đến giờ không phải uống thuốc mà da dẻ lại đẹp ra.
Tuy nhiên, cuộc sống trong ngôi nhà gạch ba banh không lập tức trở nên êm ấm. Trong khoảng 2 đến 3 năm đầu kể từ khi bà bắt đầu tập luyện, người chồng vẫn giữ thái độ gay gắt, thậm chí tìm cách ngăn cản, phá phách. Đó là quãng thời gian đầy thử thách khi bà phải đối diện với sự thô bạo của chồng bằng một tâm thế khác. Thay vì cãi vã hay uất hận như trước, bà bắt đầu chủ động chăm sóc ông từ những việc nhỏ nhất, mỗi sáng nhẹ nhàng hỏi ông có ăn sáng không, hôm nay muốn ăn gì để bà mua.
Sự thay đổi lớn nhất về tâm thức được thử thách ngay tại góc vỉa hè ngã ba Sao Đỏ, nơi bà ngồi bán ngô khoai. Bà tận mắt nhìn thấy chồng mình đi cùng người phụ nữ kia. Trong quá khứ, chỉ cần một ý nghĩ về sự phản bội đã đủ khiến bà muốn tìm đến cái chết, nhưng giờ đây, bà chọn cách đối diện khác. Bà tự nhủ rằng đây là những nợ nần từ trước mình phải trả, là nghiệp lực và duyên riêng của họ nên chọn cách buông xuống cho nhẹ lòng. “Ngày xưa tôi nhìn thấy như thế là tôi uất lắm, tôi hận lắm nhưng bây giờ tôi buông, tôi coi nhẹ đi”, bà chia sẻ.
Chính sự kiên trì và thiện lương của bà đã dần làm mềm lòng người đàn ông vốn dĩ nóng nảy. Sự thay đổi của ông diễn ra từ tốn, từ việc thôi không còn quát mắng, đập phá đến những hành động quan tâm thực tế. Có những buổi chiều trời bất chợt sầm sì, ông chủ động ra vỉa hè bảo vợ hôm nay trời mưa đi bán làm gì, làm gì có khách mà bán. Những lúc mưa gió, ông không còn mặc kệ như trước mà chạy ra thu dọn giúp bà cái ô, cái bàn ghế. Thỉnh thoảng, ông còn đưa cho bà 500 nghìn hay một triệu đồng để lo việc gia đình hoặc đi đám cưới, những khoản tiền mà trước đây ông thường giữ khít để ăn tiêu một mình. Khi bà nhắc lại chuyện cũ, ông không còn quát tháo mà chỉ cười nhạt, như một sự thừa nhận ngầm về lỗi lầm.
Cậu con trai cả, người từng chứng kiến bao trận đòn roi và sự đổ vỡ của mẹ, giờ đây cũng đã nhìn thấy một không khí khác trong gia đình. Anh thường xuyên dặn dò mẹ rằng bố như thế rồi thì kệ ông ấy, mẹ phải lo cho bản thân mẹ chứ mẹ ốm ở đấy thì ai lo. Sự quan tâm của con cái và sự đổi thay của người chồng đã khiến ngôi nhà mới xây, thành quả từ sự tích góp của bà sau bao năm dọn vệ sinh ngân hàng, trở nên ấm áp hơn. Bà tự mình đứng ra lo liệu xây cất hai ba gian nhà khang trang để có chỗ cho con cháu về chơi, bởi khi bàn bạc, chồng bà vẫn bảo không có tiền.

Hiện tại, những bữa cơm gia đình khi các con, các cháu về đoàn tụ không còn nước mắt hay sự sợ hãi thường trực như những năm 90. Ba đứa cháu nhỏ quây quần bên bà trong gian nhà mới, thay thế cho ký ức về chiếc nồi sắt máy bay bị băm vụn năm xưa. Đối với bà Mùi, sự hồi sinh không chỉ là một cơ thể khỏe mạnh không thuốc thang, mà là cảm giác bình thản thực sự khi nhìn về quá khứ và cả những thực tại còn chưa trọn vẹn của người chồng, để chọn sống một cuộc đời mới thanh thản giữa đời thường.
Xem thêm:
- Phía sau cánh cửa của người đàn bà “ba bát gạo”
- Từ tiệm sửa xe vỉa hè đến 41 trạm viễn thông vùng núi
- Ba mươi năm từ tiếng mâm vỡ đến sân thượng yên tĩnh lúc 9 giờ tối
