Người nữ hộ sinh Nguyễn Thị Minh và hành trình buông bỏ oán hận sau nửa đời tay ướt máu

Trên chiếc bàn gỗ tại ký túc xá trường trung cấp y Phú Thọ những năm cuối thập niên 70, cô sinh viên Nguyễn Thị Minh tì ngòi bút máy, chăm chú gạch đè những nét mực xanh đậm lên một chữ duy nhất trên phong bì thư: chữ “hộ”. Trong lá thư gửi về quê nhà Thổ Tang, địa chỉ người gửi chỉ còn vỏn vẹn hai chữ “Nữ sinh”, che đậy cái danh xưng “Nữ hộ sinh” mà bà đang theo học. Suốt 35 năm sau đó, đôi bàn tay ấy đón hàng ngàn sinh linh chào đời, rồi lại rệu rã vì bệnh tật và một mối oán hận kéo dài cả thập kỷ. Câu hỏi đặt ra với bà, khi bước vào tuổi xế chiều, là liệu một người phụ nữ mang trong mình quá nhiều tổn thương có thể tìm lại được sự bình yên hay không.

Chữ “hộ” bị xóa và tuổi trẻ mặc cảm với nghề bà mụ

Ở làng quê khi ấy, người ta vẫn gọi nôm na nghề hộ sinh là “bà mụ vườn”, công việc của những người đàn bà lớn tuổi, chẳng cần học hành bài bản cũng có thể đỡ đẻ. Nỗi mặc cảm ấy lớn đến mức khi người bạn cùng làng đi nhập học cùng bà về kể lại cho xóm giềng, bà Minh cảm thấy như mọi mơ mộng thời trẻ của mình tan biến. Trong khi những bạn học có gia đình quen biết đã kịp xin chuyển sang các lớp y sĩ, bà Minh, vốn chẳng có ai cậy nhờ, đành ngậm ngùi ở lại với những bài học về khung chậu và các ngôi thai.

Nhưng sự im lặng của những lá thư không kéo dài lâu trước sự khốc liệt của thực tế tại bệnh viện đa khoa tuyến huyện. Không gian phòng đẻ những năm ấy chỉ có mùi thuốc sát trùng nồng nặc và tiếng rên xiết kéo dài của những sản phụ trong những cuộc chuyển dạ thường trực từ 12 đến 24 tiếng đồng hồ. Tại nơi mà máy siêu âm thai vẫn còn là điều xa xỉ, mọi hy vọng của sản phụ đều đặt lên đôi bàn tay của người nữ hộ sinh trong việc tiên lượng tình trạng ối và độ mở cổ tử cung.

Những đêm trắng nơi phòng đẻ tuyến huyện

Bà Minh vẫn nhớ vẹn nguyên một đêm mưa rông, sấm sét xé toạc bầu trời. Trong phòng đẻ, một sản phụ 30 tuổi, vợ thứ hai của một người đàn ông nghèo khổ sống trong căn lều nát cạnh bệnh viện, đang quằn quại vì một ca đẻ khó. Sau nhiều giờ rặn liên tục mà đứa trẻ vẫn chưa lọt, bà Minh buộc phải thực hiện thủ thuật rác hút, tức hút chân không. Đúng lúc cao điểm, một tiếng sét nổ ngang tai, toàn bộ hệ thống điện vụt tắt, để lại căn phòng trong bóng tối đặc quánh và tiếng mưa xối xả trên mái tôn.

Nữ hộ sinh Nguyễn Thị Minh quét dọn sân nhà trong cuộc sống thường nhật sau khi nghỉ hưu, phản ánh nhịp sống giản dị của nhân vật trong bài viết.
Bà Nguyễn Thị Minh quét dọn sân trước nhà tại Vĩnh Phúc, Phú Thọ trong sinh hoạt hằng ngày sau khi nghỉ công tác. (Ảnh: Khai Mở)

“Lúc đó tôi thực sự là hoảng, tim đập chân run thật,” bà Minh nhớ lại khoảnh khắc đôi bàn tay mình phải dò dẫm trong bóng tối để điều khiển máy hút. Bà vội vã gọi mọi người trong ca trực sang hỗ trợ, người cầm đèn pin, người giữ sản phụ. Trong không gian hẹp, giữa tiếng thở dốc và hơi lạnh của cơn rông, bà Minh tập trung vào cảm giác từ đầu ngón tay. Khi tiếng khóc của đứa trẻ cuối cùng cũng vang lên, người chồng nghèo đứng đợi ngoài hành lang đã quỵ xuống vì hạnh phúc, coi bà như ân nhân cứu mạng của gia đình từ đó về sau.

Minh chứng sống động nhất cho những năm tháng thức trắng đêm của bà Minh chính là người con nuôi hiện đang là một kỹ sư xây dựng 43 tuổi tại Vĩnh Yên. Đó là một ngày năm 1983, một em bé sinh non khi mới tròn 7 tháng chào đời trong tình trạng ngạt nặng, toàn thân tím tái. Giữa bối cảnh bệnh viện không có máy thở oxy cho trẻ sơ sinh, gia đình đã gần như buông xuôi. Bà Minh đặt đứa bé nhỏ thó lên bàn, liên tục thực hiện hà hơi thổi ngạt trực tiếp và xoa bóp tim cho bé. Từng nhịp thở của người nữ hộ sinh truyền vào lồng ngực yếu ớt của sinh linh bé nhỏ trong sự nín thở của những người có mặt. Một phút, rồi mười phút trôi qua, những vệt hồng bắt đầu lan tỏa trên làn da tím tái. Cảm động trước sự kiên trì đó, sau khi cháu bé ra viện, ông nội của cháu đã tìm đến tận nhà bà Minh, trịnh trọng đặt vấn đề xin phép cho cháu làm con nuôi của gia đình.

Đôi tay rệu rã và mười năm oán hận người cậu ruột

Suốt 35 năm công tác, đôi bàn tay ấy đã đón hàng ngàn sinh linh chào đời, có những đêm một mình bà xoay xở đỡ thành công tới 5 đến 6 ca đẻ. Thế nhưng, khi bước vào tuổi xế chiều, chính đôi bàn tay từng giành giật sự sống cho người khác ấy lại bắt đầu nứt nẻ, rỉ máu vì bệnh vảy nến á sừng. Mỗi khi mùa đông đến, bà phải bôi thuốc, uống thuốc đủ loại nhưng không đỡ, thậm chí phải đeo găng tay cao su để làm việc nhà vì đôi tay quá đau đớn. Những cơn đau thể xác ấy bắt đầu cộng hưởng với một vết thương lòng khác vẫn âm ỉ cháy suốt một thập kỷ, đó là nỗi hận thù đối với người cậu ruột sau một biến cố oan khiên của người mẹ quá cố.

Nguyễn Thị Minh thưởng trà trong không gian yên tĩnh tại Vĩnh Yên, hình ảnh minh họa cuộc sống hiện tại sau nhiều năm làm nữ hộ sinh.
Bà Nguyễn Thị Minh thưởng trà tại một quán ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ trong thời gian sinh hoạt thường ngày. (Ảnh: Khai Mở)

Trong ký ức của bà Minh, nguồn cơn của những rạn nứt vốn đã âm thầm bén rễ từ những năm 1966. Khi ấy, bà mới lên năm, còn cậu em trai vừa tròn một tuổi thì bố rời Hải Phòng để lên đường vào chiến trường. Suốt chín năm ròng rã cho đến ngày giải phóng, ba mẹ con bà sống nương nhờ vào nhà ngoại tại Thổ Tang. Theo lời bà kể, mẹ bà là người đàn bà nhẫn nại, dồn hết sự tần tảo để quán xuyến nhà cửa, chăm lo cho người cậu vừa đi bộ đội về từ bữa ăn đến giấc ngủ. Sự hy sinh ấy tưởng chừng sẽ được đền đáp bằng sự sum vầy khi hòa bình lập lại, nhưng năm 1975, gia đình không đón được người cha trở về mà chỉ nhận được một tờ giấy báo tử.

Nỗi đau mất cha chưa nguôi thì biến cố ập đến tại chính ngôi nhà ngoại. Bà Minh vẫn nhớ rõ cái ngày người em trai hớt hải chạy đi tìm bà, gương mặt thất thần báo tin nhà cậu mất trộm và cậu đang đổ cho mẹ mình lấy. Khi bà bước chân vào hiên nhà, không khí đã đặc quánh sự nghi kỵ. Theo lời bà Minh thuật lại, người cậu đứng giữa sân, chỉ tay về phía chị gái mình và khẳng định chắc nịch rằng không ai biết chỗ cất chìa khóa, chỉ có mẹ bà biết.

Bà Minh đứng sững giữa sân, nhìn người mẹ vốn hiền lành giờ chỉ biết im lặng trong uất ức. Bà cố gắng phân trần với cậu rằng mình vẫn cho mẹ tiền tiêu, mua quần áo cho mẹ đầy đủ, mẹ không thiếu gì. Tuy nhiên, trong tâm trí bà, lời buộc tội của người cậu lúc đó dường như vẫn “có lý” dưới góc nhìn của một người vừa mất của, khiến bà chỉ biết ngậm ngùi trở về mà không cách nào minh oan ngay cho mẹ. Sự việc chỉ thực sự sáng tỏ khi một thời gian sau, kẻ trộm đột nhập lần thứ hai đúng lúc mẹ bà và người cậu đang đi vắng cùng nhau. Dẫu mẹ đã được minh oan, nhưng trong lòng người nữ hộ sinh trẻ tuổi khi ấy, niềm tin vào tình cốt nhục đã bắt đầu rạn vỡ.

Hai năm sau vụ mất trộm, mẹ bà mắc bệnh hiểm nghèo. Những ngày túc trực bên giường bệnh của mẹ, bà Minh lại nghe được những thông tin khiến lòng càng thêm thắt lại. Theo lời kể của người em dâu thuật lại cho bà Minh trong bóng tối của phòng bệnh, quãng thời gian trước đó, người cậu từng có những lời lẽ bị coi là hỗn láo và thậm chí là dọa đánh người chị đang đau yếu của mình. Lời kể ấy như giọt nước tràn ly đối với bà Minh. Bà tự nhủ rằng cả đời mẹ mình rất khổ, sống thiếu thốn tình cảm, chỉ lo cho các em, để rồi cuối đời các em lại đối xử với chị như thế.

Sau khi lo xong hậu sự, giữa không gian còn nghi ngút khói hương, bà Minh đã chọn cách đối mặt trực diện với người cậu trước sự chứng kiến của những người thân trong gia đình. Bà thuật lại lời mình nói lúc đó với giọng đanh lại, rằng mẹ bà đã bệnh nặng như thế, cậu vào cũng không nói được một lời xin lỗi, và nếu từ nay cậu không thể nói với các cháu một câu thì bà và cậu sẽ không nhận nhau là cậu cháu nữa. Lời tuyên bố ấy mở đầu cho một chương dài u tối trong quan hệ gia đình. Suốt 10 năm ròng rã, dù cùng sống trong một làng, hít thở cùng bầu không khí, nhưng bà Minh tuyệt đối không bước qua ngưỡng cửa nhà cậu. Sự đoạn tuyệt này không chỉ là sự im lặng đơn thuần mà là một gánh nặng tâm lý mà bà gọi là nỗi “hận cậu quá”.

Mười năm oán hận ấy cũng là quãng thời gian sức khỏe bà Minh xuống dốc trầm trọng sau khi rời khỏi công việc tại bệnh viện. Đôi bàn tay vốn từng khéo léo điều khiển máy hút giờ đây trở nên thô ráp, nứt nẻ rỉ máu bởi bệnh vảy nến á sừng. Mỗi khi bế cháu, bà thấy tay căng đau, rỉ máu đến mức phải thường xuyên dùng găng tay làm bếp để tránh tiếp xúc với nước, gây khó chịu tột cùng. Những cơn đau thắt ngực do hở van hai lá và rối loạn nhịp tim bắt đầu xuất hiện dày đặc hơn, khiến người phụ nữ vốn mạnh mẽ ấy cảm thấy mệt mỏi và bế tắc.

Cơ duyên đến giữa những đêm mất ngủ ở Vĩnh Yên

Chính trong những năm tháng nghỉ hưu với thân thể đầy vết nứt nẻ và tâm hồn trĩu nặng nỗi oán hận, bà Minh bắt đầu đối diện với một cuộc chiến mới, đó là cuộc chiến để tìm lại sự bình yên cho chính mình giữa những cơn đau thể xác và sự phản đối gay gắt của người bạn đời ngay trong chính tổ ấm của mình. Rời bệnh viện sau 35 năm trực chiến bên giường đẻ, bà mang về một cơ thể mà bà tự mô tả là “máy móc đã rệu rã”. Đáng sợ nhất trong ký ức của bà là căn bệnh vảy nến á sừng, thứ đã biến đôi bàn tay từng khéo léo đón hàng ngàn sinh linh trở nên sần sùi, thô ráp.

Nguyễn Thị Minh đọc sách Chuyển Pháp Luân tại Vĩnh Yên, hoạt động gắn với giai đoạn thay đổi nhận thức và cuộc sống được nhắc đến trong bài viết.
Bà Nguyễn Thị Minh đọc cuốn Chuyển Pháp Luân tại một không gian sinh hoạt ở Vĩnh Phúc. (Ảnh: Khai Mở)

Mỗi khi mùa đông Phú Thọ tràn về, bà Minh chỉ biết nhìn đôi tay rỉ máu mà ngậm ngùi, những vết nứt sâu đến mức bà phải đeo găng tay cao su ngay cả khi bế cháu hay làm việc bếp núc để tránh tiếp xúc với nước. Trong căn nhà vốn đã thiếu vắng tiếng cười, lời nói của người chồng như xát thêm muối vào vết thương lòng. Bà kể lại, thấy vợ đau đớn vì bệnh ngoài da, ông không an ủi mà lại buông lời nặng nề, rằng bà “bị hủi rồi”. Cùng lúc đó, trong cảm nhận của bà, những cơn mất ngủ kéo dài và chứng rối loạn tiền đình khiến bà thường xuyên sống trong trạng thái chao đảo, mệt mỏi cùng cực.

Cơ duyên thay đổi bắt đầu từ những ngày bà xuống Vĩnh Yên trông cháu cho con. Trong những quãng nghỉ hiếm hoi, bà Minh thường ngồi lặng lẽ xem điện thoại. Bà chia sẻ rằng, dù trước đây chưa bao giờ đi đền chùa cầu cúng, nhưng những bài viết về một môn tập dạy con người sống theo nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn cứ lặp đi lặp lại trên màn hình khiến bà tò mò. Bà bắt đầu đọc các bình luận chia sẻ về việc cải thiện tâm tính và sức khỏe. “Thế mình đang muốn tìm kiếm, thế mình phải thử thôi,” bà tự nhủ và bắt đầu mày mò tìm video để tập theo.

Bà Minh vẫn nhớ như in buổi trưa hôm đó, sau khi tập vài lượt động tác còn chưa thuộc, bà cảm thấy một điều kỳ lạ, người phụ nữ vốn mất ngủ kinh niên bỗng thấy buồn ngủ và có một giấc ngủ trưa sâu bất ngờ. Cảm giác nhẹ nhõm sau giấc ngủ ấy khiến bà quyết định đặt mua sách về đọc. Tuy nhiên, trải nghiệm cá nhân của bà không hề bằng phẳng. Khi thấy tay đỡ mỏi, bà Minh nảy sinh tâm lý chủ quan, bỏ tập để quay lại với môn thể thao đánh bóng. Bà nhận thấy chỉ một năm sau, các triệu chứng cũ không những quay lại mà theo lời bà, còn xuất hiện thêm chứng rối loạn nhịp tim và hở van hai lá. Khi cơ thể thực sự mệt mỏi, không thiết gì nữa, bà mới quyết định quay lại tu luyện một cách nghiêm túc từ năm 2019.

Sóng gió trong nhà khi vợ theo học Pháp Luân Công

Nhưng chính lúc này, sóng gió gia đình nổi lên ngay tại mâm cơm. Khi biết vợ theo học môn này, chồng bà Minh phản đối quyết liệt vì sợ vợ mê muội, bỏ bê nhà cửa hay mang hết tiền của đi cúng bái. Các con bà cũng không khỏi lo lắng, sợ mẹ bị lừa gạt. Những bữa cơm gia đình trở nên nghẹt thở với cảnh người chồng mặt nặng mày nhẹ, buông những lời khó nghe. Bà Minh kể, có những lúc đỉnh điểm, ông dọa sẽ báo công an, thậm chí đưa số điện thoại công an ra để gây áp lực.

Sự thay đổi rõ rệt nhất mà người thân chứng kiến không nằm ở lời nói, mà ở cách bà đối diện với những cơn thịnh nộ. Bà Minh nhớ lại, trước kia nếu chồng động chân động tay thì bà sẽ động trả lại ngay lập tức để đòi bình đẳng, không chịu để bị bắt nạt. Nhưng giờ đây, trong một buổi chiều khi ông lại lớn tiếng quát tháo và dọa báo công an, bà Minh chỉ lặng lẽ dọn dẹp rồi ôn tồn bảo rằng môn bà học chỉ dạy người ta làm người tốt, ông cứ gọi ngay công an lên đây, bà cũng không sợ. Sự nhẫn nhịn và chủ động làm lành của bà khiến không khí căng thẳng dần dịu xuống. Ông chồng vốn hay gắt gỏng nay thấy vợ không còn tranh đấu đúng sai, tính tình trở nên dịu dàng và hòa bình hơn nên cũng dần bớt gay gắt.

Trong cảm nhận riêng của mình, bà Minh cho biết 8 năm qua bà không còn phải chạm đến một viên thuốc nào. Bà nhận thấy các vết nứt nẻ trên tay khô miệng, không còn rỉ máu, những cơn đau thắt ngực và rối loạn tiền đình cũng thuyên giảm. Một người bạn lâu năm gặp lại đã phải thốt lên rằng trông bà trẻ đẹp hơn và khỏe hơn ngày xưa. Sự chuyển biến âm thầm ấy không chỉ dừng lại ở sức khỏe. Nó thôi thúc người nữ hộ sinh phải đối diện với khối u nhọt lớn nhất trong lòng mình, đó là mối hận thù mười năm với người cậu ruột. Bà bắt đầu tự hỏi, nếu mình thực sự muốn làm người tốt, liệu bà có thể buông bỏ nỗi oán hận đã kết tinh thành “kẻ thù” bấy lâu nay hay không. Cuộc đấu tranh nội tâm ấy đưa bà đến một quyết định mà mười năm qua bà chưa từng dám nghĩ tới.

Trở về thôn Đông Mẫu, Yên Đồng để buông bỏ hận thù

Bước chân bà Minh dừng lại trước cánh cổng nhà người cậu ruột tại thôn Đông Mẫu, Yên Đồng, nơi bà từng thề đoạn tuyệt sau những uất ức của người mẹ quá cố. Thay vì chờ đợi một lời xin lỗi, bà chủ động bước vào, ngồi xuống ghế và mở lời trước rằng cháu không giận cậu nữa. Trong cảm nhận của bà, nỗi hận thù mười năm giờ đây được buông xuống nhẹ lòng khi bà chia sẻ với cậu quan niệm rằng không ai là kẻ thù của mình. Bà kể lại, hôm đó người cậu đã đón tiếp bà rất niềm nở và cùng ngồi uống nước trà trò chuyện. Khi bà giới thiệu với cậu rằng môn tập này rất tốt cho sức khỏe, người cậu đồng ý đọc thử và đã đọc hết một lượt cuốn sách Chuyển Pháp Luân. Theo quan sát của bà, ông cũng gật đầu thừa nhận những lời dạy trong đó là chân chính, dù bản thân chưa có cơ duyên tu luyện.

Nguyễn Thị Minh chăm sóc cây xanh trước nhà tại Vĩnh Yên, hình ảnh phản ánh nhịp sống bình dị của nhân vật sau nhiều năm làm nghề hộ sinh.
Bà Nguyễn Thị Minh chăm sóc bồn cây trước nhà trong một buổi sáng thường ngày. (Ảnh: Khai Mở)

Sự thay đổi trong tâm tính của người nữ hộ sinh nghỉ hưu bắt đầu lan tỏa ra cả những sinh hoạt đời thường nhất ở làng quê. Bà Minh vẫn nhớ lần người bán mít ngoài chợ quên không lấy tiền của mình, thấy vậy bà đã tất tả đi tìm cho bằng được để trả lại số tiền ấy. Bà kể rằng lúc đó người bán hàng nhìn bà với ánh mắt rất ngạc nhiên vì số tiền không lớn nhưng bà vẫn lặn lội đi tìm. Bà chỉ giải thích ngắn gọn rằng mình đang học sống theo nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn nên không thể lấy tiền của ai. Tương tự, với anh thợ điện trả nhầm tiền, bà cũng kiên nhẫn đợi đến tháng sau để hoàn trả và nói rõ lý do bà làm vậy khác với những gì đài truyền thanh xã thường tuyên truyền. Bà thấy anh thợ điện tỏ ra rất hoan hỉ và đồng tình với sự minh bạch này.

Thử thách lớn nhất đối với sự nhẫn nại của bà lại nằm ở những va chạm không mong muốn ngay trong gia đình. Bà Minh nhớ rõ ngày giỗ bố, khi mua 20 quả trứng thì có tới 8 quả bị thối, mua một cân giò thì lại bị thiu. Bà thú nhận lúc đầu mình rất bực tức, muốn mang ra chợ làm bằng chứng cho mọi người thấy sự thiếu trung thực của người bán. Nhưng rồi bà tự vấn mình rằng làm thế để làm gì, để họ mất mặt hay để họ phải đền tiền. Nghĩ vậy, bà quyết định tự mình buông xuống. Lần sau gặp lại, dù người bán chối quanh, bà vẫn giữ vẻ ôn hòa để nhắc nhở họ rút kinh nghiệm chứ tuyệt nhiên không bắt đền.

Chính những biến chuyển âm thầm đó đã làm thay đổi thái độ của người chồng, người từng dọa báo công an để ngăn cản vợ. Bước ngoặt xảy ra vào một buổi chiều năm 2025, khi loa truyền thanh xã phát bài cảnh giác về môn tập của bà, và một nhóm thanh niên trước cửa nhà đang hùa theo bàn tán. Từ trong nhà, bà Minh thấy bất ngờ khi nghe tiếng chồng mình dõng dạc nói lời công đạo với đám thanh niên rằng không phải thế, Pháp Luân Công này là tốt, dạy người ta làm người tốt. Bà Minh chia sẻ rằng khoảnh khắc đó bà mừng quá vì biết chồng đã thực sự hiểu mình. Sự thay đổi của người chồng còn đi xa hơn khi sau một lần đi bệnh viện về, chính ông đã chủ động đề nghị bà Minh mời người bạn hàng xóm sang nhà mình để cùng học tập. Từ đó, ngôi nhà từng vang lên những lời dọa dẫm nay đã trở thành một điểm học chung mỗi tuần một buổi.

Chân dung Nguyễn Thị Minh trong không gian sinh hoạt tại Vĩnh Yên, khép lại câu chuyện về hành trình buông bỏ oán hận và hướng tới cuộc sống bình yên.
Bà Nguyễn Thị Minh trong buổi ghi hình tại Vĩnh Phúc, khép lại câu chuyện về cuộc sống hiện nay. (Ảnh: Khai Mở)

Trong cảm nhận của bà Minh, cuộc đời mình từ đây đã thực sự sang một trang mới. Bà nhận thấy suốt 8 năm qua mình không còn phải chạm đến một viên thuốc nào cho các căn bệnh cũ, và tâm tính cũng trở nên dịu dàng hơn, hòa bình hơn, nhẫn nại hơn. Mỗi khi làm điều gì chưa đúng, bà lại tự soi xét lại mình theo những gì đã học để hoàn thiện hơn. Mỗi ngày tại thôn Đông Mẫu, Yên Đồng, khi làng xóm vẫn còn chìm trong thinh lặng, người nữ hộ sinh Nguyễn Thị Minh vẫn duy trì thói quen thức dậy từ lúc 3 giờ sáng để luyện công. Sau những giờ phút tĩnh tại ấy, bà lặng lẽ trở về với vai trò thường nhật của một người bà, người vợ, bắt đầu một ngày mới trong sự bình yên mà bà đã nỗ lực tìm lại được cho chính mình.

Xem thêm: